Tài nguyên thư viện

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Z7407224507330_cbc895ba75e6fc1229942a956cab2b90.jpg Z7407223857546_69bbb9016cabbec5b6f31fc78341c26c.jpg Z7407220949972_b53ce72a8974298d3fe7549cff985f14.jpg Z7407167576931_017_c0c46fdd939ab26400b2f4725500f2d7.jpg Z7407167576931_012_2378aba112d0a338275553a2e8446d20.jpg Z7407167576931_010_93c8afc2d27dbc184b9237039519ed9f.jpg Z7415787074465_e7c3a95726feb5d82cb0be5cc9b181d1.jpg Z7415723530310_aea09d535c9f7d4667629f54d8a8c254.jpg Z7416337233877_5f9541e83a2112839ce705ea153f6d44.jpg Z7416337231340_2873872dfc00c2a6b9fc44711b5fcefc.jpg Z7414995756480_87ca0b226b6d2d9716ba4955716fdae3.jpg Z7414995756379_e5ced6f687d2b2cfc34c1d013c8cd038.jpg Z7416838352820_ebc2fdc86782f1070baa5983b8faac56.jpg Z7411974780259_dcd3cf30cec47e0794a3b97662f5e302.jpg Z7413375341315_8b42663f12c20753de5565df145a4996.jpg Z7352826852798_201af815e7e6a291bf12ba8479a21a9e.jpg Z7344796565013_c42394b4565ea12eb69817a0474fb0ab.jpg Z7344796565051_c9f33d5071deb411d68be1d73defd4cd.jpg Z7344808392629_016c3fd62103516cb5c4423da42949ad.jpg Vieng_nghia_trang.jpg

    📚 Mỗi ngày một cuốn sách – Mỗi ngày một điều hay 📚

    Anh hùng dân tộc thiểu số tập 3

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Đinh Thị Thu Thủy
    Ngày gửi: 10h:09' 10-12-2025
    Dung lượng: 3.0 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN
    Chủ tịch Hội đồng
    PGS.TS. PHẠM VĂN LINH
    Phó Chủ tịch Hội đồng
    PHẠM CHÍ THÀNH
    Thành viên
    TRẦN QUỐC DÂN
    TS. NGUYỄN ĐỨC TÀI
    TS. NGUYỄN AN TIÊM
    NGUYỄN VŨ THANH HẢO

    CÁC TÁC GIẢ
    NGUYỄN NGỌC THANH (Chủ biên)
    NGÔ THỊ CHANG
    PHAN THỊ HẰNG
    NGUYỄN LINH HƯƠNG
    LÊ THỊ KIM OANH
    NGUYỄN THANH TÙNG
    PHẠM HÀ XUYÊN

    5

    LỜI NHÀ XUẤT BẢN

    Thế kỷ XX, đất nước ta đã phải trải qua các cuộc
    kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm
    lược, chiến tranh biên giới Tây Nam, chiến tranh biên
    giới phía Bắc để bảo vệ Tổ quốc. Trong các cuộc chiến
    tranh ấy, đồng bào dân tộc thiểu số đã có những đóng
    góp vô cùng to lớn. Bất chấp hiểm nguy, đã hòa mình
    vào công cuộc kháng chiến kiến quốc dưới sự lãnh đạo
    của Đảng. Hàng vạn thanh niên các dân tộc thiểu số
    đã lên đường nhập ngũ, tham gia lực lượng dân quân
    tự vệ. Trong các bản làng, bà con nuôi giấu và bảo vệ
    cán bộ, bộ đội; tham gia tiễu phỉ, trừ gian, bố phòng
    chiến đấu, chống càn, phục vụ hậu cần cho chiến trận.
    Từ đó, đã xuất hiện nhiều tấm gương trung kiên, tiêu
    biểu sẵn sàng xả thân vì lý tưởng cách mạng, mãi mãi
    là niềm tự hào của dân tộc. Nhiều chiến sĩ là người dân
    tộc thiểu số đã được phong tặng, truy tặng danh hiệu
    cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
    Trong lao động, sản xuất cũng xuất hiện những
    Anh hùng Lao động ở các nhà máy, xí nghiệp, hợp tác
    xã, công trường nông - lâm nghiệp,... là con em của
    đồng bào dân tộc thiểu số. Họ tích cực tăng gia sản

    6

    ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 3

    xuất, cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động,
    cải thiện cuộc sống trên quê hương, đóng góp nghĩa vụ
    với nhà nước, cổ vũ, khích lệ bà con dân tộc miền núi
    cùng nhau đoàn kết vươn lên.
    Trân trọng công lao, đóng góp của các Anh hùng
    Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động đối với sự
    nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, Nhà xuất bản
    Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản bộ sách Anh
    hùng người dân tộc thiểu số gồm 3 tập, do
    PGS.TS. Nguyễn Ngọc Thanh - Trung tâm Thông tin
    văn hóa các dân tộc làm chủ biên.
    Nội dung cuốn sách không chỉ là sự tri ân đối với
    các anh hùng dân tộc thiểu số, mà còn có ý nghĩa giáo
    dục truyền thống yêu nước, đấu tranh cách mạng và
    lao động sản xuất đối với thế hệ trẻ ngày nay.
    Để bạn đọc thuận tiện theo dõi, tên các nhân vật
    được sắp xếp theo vần chữ cái tiếng Việt. Tập 1 gồm
    tên các nhân vật từ chữ cái A đến chữ cái K; tập 2 gồm
    tên các nhân vật từ chữ cái L đến chữ cái S; tập 3 gồm
    tên các nhân vật từ chữ cái T đến chữ cái Y.
    Xin giới thiệu bộ sách cùng bạn đọc.
    Tháng 7 năm 2016
    NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT

    7

    LỜI NÓI ĐẦU

    Là một đất nước có diện tích không lớn, song
    Việt Nam luôn phải hứng chịu những cuộc chiến
    tranh khốc liệt trong suốt chiều dài lịch sử hàng
    ngàn năm dựng nước và giữ nước. Để có nền hòa
    bình, độc lập ngày nay, biết bao xương máu của
    thế hệ người con các dân tộc trên đất nước Việt
    Nam đã phải đổ xuống. Trải qua các cuộc chiến
    tranh, tinh thần yêu nước, ý chí quật cường luôn
    được thắp sáng trong mỗi người con đất Việt,
    không kể vùng miền, thành phần dân tộc. Cũng
    từ những cuộc chiến tranh đó, nhiều người con đã
    trở thành những anh hùng, những tấm gương
    sáng cho các thế hệ con em mai sau.
    Trong thời kỳ lịch sử hiện đại, trải qua các
    cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp, đế quốc
    Mỹ xâm lược hay chiến tranh biên giới Tây Nam,
    chiến tranh biên giới phía Bắc, nhiều tấm gương
    anh dũng của các chiến sĩ trên khắp các mặt trận
    đã được ghi nhận, trong số đó có nhiều chiến sĩ là
    những người con của đồng bào các dân tộc thiểu
    số. Trong mỗi cuộc chiến, ở các địa phương, lực

    8

    ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 3

    lượng dân quân tự vệ là người dân tộc thiểu số đã
    phát triển nhanh. Hàng vạn thanh niên các dân
    tộc lên đường nhập ngũ. Các chiến sĩ dân tộc
    thiểu số đã hòa vào dòng người “Xẻ dọc Trường
    Sơn đi cứu nước”, đã vượt lên mất mát, hy sinh,
    tham gia kháng chiến với nhiều hình thức phong
    phú, cả trực tiếp và gián tiếp, cả ở vùng căn cứ,
    vùng tự do cũng như vùng địch hậu; tham gia trừ
    gian, bố phòng chiến đấu, chống càn, phục vụ hậu
    cần cho chiến trận. Trong chiến đấu, đồng bào các
    dân tộc thiểu số luôn ngoan cường, lập nhiều
    chiến công oanh liệt. Nhiều người đã hiến dâng cả
    xương máu vì độc lập, tự do và thống nhất Tổ
    quốc. Cũng từ trong cuộc chiến đấu ấy, đã xuất
    hiện nhiều tấm gương trung kiên, tiêu biểu, mãi
    mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam như các
    anh hùng: La Văn Cầu, Bế Văn Đàn, Nông Văn
    Dền... cùng hàng vạn liệt sĩ đã anh dũng hy sinh.
    Nhiều chiến sĩ là người dân tộc thiểu số đã được
    phong tặng danh hiệu “Anh hùng quân đội”,
    “Dũng sĩ diệt Mỹ”.
    Trong các cuộc chiến tranh vĩ đại chống lại
    thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, chiến tranh biên
    giới Tây Nam, chiến tranh biên giới phía Bắc,
    đồng bào các dân tộc thiểu số và vùng miền núi
    luôn tự hào bởi những điều thật đặc biệt: Đội
    Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân - tiền
    thân của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng

    LỜI NÓI ĐẦU

    9

    được thành lập giữa vùng miền núi Cao Bằng,
    với các thành viên đa số là đồng bào các dân tộc
    thiểu số. Anh hùng Lực lượng vũ trang đầu tiên
    của Quân đội nhân dân Việt Nam là một người
    dân tộc Tày - đồng chí La Văn Cầu. Chiến thắng
    Điện Biên Phủ - chiến thắng quan trọng nhất và
    là chiến thắng cuối cùng quyết định đánh bại
    thực dân Pháp đã diễn ra ở vùng miền núi.
    Chiến thắng Buôn Ma Thuột năm 1975 - chiến
    thắng đầu tiên nhưng tạo điều kiện để Đảng ta
    quyết định mở chiến dịch Hồ Chí Minh giải
    phóng miền Nam cũng xuất phát ở vùng đồng
    bào các dân tộc Tây Nguyên. Những minh chứng
    đó khẳng định: công lao và cống hiến của quân
    dân đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn vùng
    dân tộc miền núi - căn cứ địa cách mạng kháng
    chiến của dân tộc đã đóng góp vô cùng to lớn vào
    cuộc chiến đấu chung; là sự chia sẻ, gánh vác
    trách nhiệm chung và đã góp phần vào thắng lợi
    vẻ vang trước thử thách sống còn của đất nước
    Việt Nam anh hùng.
    Giờ đây, sau hơn 40 năm miền Nam giải phóng,
    thống nhất đất nước, đồng bào các dân tộc thiểu số
    đang chung tay cùng với đồng bào cả nước trong
    công cuộc xây dựng đất nước trên mọi phương
    diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội vì mục tiêu
    dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
    minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

    10

    ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 3

    Bộ sách Anh hùng người dân tộc thiểu số
    gồm 3 tập sẽ đem đến cho bạn đọc những thông
    tin cụ thể về những người con ưu tú đại diện cho
    tinh thần, ý chí chiến đấu bảo vệ và xây dựng quê
    hương, đất nước của đồng bào các dân tộc thiểu
    số. Biên soạn bộ sách này, chúng tôi hy vọng sẽ
    đem đến cho bạn đọc những hiểu biết nhất định
    về thân thế cũng như thành tích của các anh
    hùng người dân tộc thiểu số. Qua đó, sẽ giúp cho
    bạn đọc, nhất là thế hệ trẻ thêm yêu Tổ quốc,
    sống và cống hiến hết mình cho sự nghiệp phồn
    vinh của đất nước.
    Trong bộ sách này, chúng tôi sắp xếp tên các
    anh hùng dân tộc thiểu số theo vần A, B, C,... để
    tiện cho việc tra cứu thông tin của bạn đọc.
    Mặc dù chúng tôi đã có nhiều cố gắng trong
    thu thập các nguồn tư liệu, nhưng không thể tránh
    khỏi những thiếu sót. Ban biên soạn mong nhận
    được những ý kiến đóng góp quý báu của bạn đọc
    để bộ sách được hoàn thiện và đầy đủ hơn trong
    lần xuất bản sau.
    Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
    BAN BIÊN SOẠN

    11

    VÀNG LÝ TẢ

    Anh hùng Vàng Lý Tả sinh năm 1926, là
    người dân tộc Mông, quê ở xã Kim Bon, huyện
    Phù Yên, tỉnh Sơn La. Khi hy sinh, anh là liên lạc
    viên của huyện.
    Năm 1947, dưới sự lãnh đạo của tổ chức đảng,
    Vàng Lý Tả đã tích cực hoạt động cùng với cán bộ
    kháng chiến. Suốt 5 năm hoạt động (1947 - 1951),
    Vàng Lý Tả đã vận động các gia đình nuôi giấu
    cán bộ và trở thành cơ sở cách mạng.
    Trong thời gian làm liên lạc, chạy công văn,
    thư từ bí mật từ huyện đến xã, Vàng Lý Tả luôn
    được cán bộ tin cậy, không bao giờ để mất mát,
    nhầm lẫn tài liệu. Không chỉ làm liên lạc, anh còn
    kết hợp đi thu thập tin tức hoạt động của địch về
    báo cáo cho cơ sở, vì vậy cơ sở hoạt động có hiệu
    quả, an toàn.
    Tháng 8-1951, do bị chỉ điểm, Vàng Lý Tả bị
    địch bắt. Chúng tra tấn anh cực kỳ dã man (dội
    nước sôi vào đầu, tẩm dầu vào tay đốt, nhúng tay
    vào axít...) nhưng Vàng Lý Tả không hề hé răng

    12

    ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 3

    khai báo, quyết bảo vệ cách mạng, bảo vệ nhân
    dân. Không khuất phục được, giặc đem anh đi xử
    bắn. Vàng Lý Tả đã anh dũng hy sinh.
    Ngày 11-6-1999, Vàng Lý Tả được Nhà nước
    truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ
    trang nhân dân1.

    _____________
    1. Xem Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng Thi
    đua - Khen thưởng Trung ương: Chân dung anh hùng
    thời đại Hồ Chí Minh, Nxb. Lao động, Nxb. Quân đội
    nhân dân, Hà Nội, 2000, t.I, tr.240.

    13

    LỘC VIỄN TÀI

    Anh hùng liệt sĩ Lộc Viễn Tài sinh năm 1940,
    là người dân tộc Tày, quê ở xã Vĩ Thượng, huyện
    Bắc Quang, tỉnh Hà Giang, công tác tại Đồn 155,
    Công an nhân dân vũ trang Hà Tuyên, giữ chức
    vụ Đồn trưởng Đồn 155.
    Khi cuộc chiến tranh biên giới nổ ra, Lộc Viễn
    Tài đang công tác tại đồn Công an nhân dân vũ
    trang biên phòng Lũng Làn (Đồn 155) tại vùng
    biên giới thuộc hai xã Sơn Vĩ và Sìn Cái, huyện
    Mèo Vạc, tỉnh Hà Tuyên.
    Sáng ngày 17-2-1979, hai tiểu đoàn bộ binh
    địch dồn dập bắn pháo cối dọn đường, theo đường
    mốc 138 và 140 ồ ạt tấn công Đồn 155. Lộc Viễn
    Tài chỉ huy mũi chính diện, trực tiếp bắn đại liên
    vào đội hình địch. Phát hiện 3 tên chỉ huy của
    địch, Lộc Viễn Tài đã lệnh cho cối bắn và tiêu diệt
    chúng. Đơn vị bẻ gãy nhiều đợt tấn công của địch,
    tiêu diệt và làm bị thương gần 100 tên, tạo điều
    kiện cho hai mũi khác diệt, làm bị thương gần 100
    tên nữa. Bị thiệt hại nặng, địch cho bộ binh lui ra

    14

    ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 3

    để củng cố đội hình, đồng thời cho pháo bắn cấp
    tập vào trận địa ta. Nhưng khi bộ binh địch lại
    xông lên, chúng đã bị cán bộ, chiến sĩ Đồn biên
    phòng 155 đánh bật ra.
    Ngày 5-3-1979, địch tập trung lực lượng
    quyết chiếm Đồn 155 và cao điểm 1379 của ta.
    Chúng cho pháo bắn trước, sau dùng bộ binh chia
    thành nhiều mũi ồ ạt tấn công, nhưng bị quân ta
    chống trả quyết liệt và đánh bật ra. Địch buộc
    phải tăng cường lực lượng. Lợi dụng thời tiết
    nhiều sương mù, Lộc Viễn Tài tổ chức lực lượng
    phục kích, dồn địch vào trận địa đã được bố trí
    hầm chông, bãi mìn gài sẵn, tiêu diệt nhiều tên
    địch, buộc chúng phải rút quân để củng cố đội
    hình. Trong trận chiến chống lại đợt tấn công tiếp
    theo, Lộc Viễn Tài đã chỉ huy một tổ chặn đánh từ
    xa, chia cắt đội hình địch ra từng mảng để dễ tiêu
    diệt. Nhưng quân địch quá đông, đạn sắp hết, anh
    lệnh cho hai chiến sĩ rút lui, còn mình dùng
    những viên đạn cuối cùng ghìm chân địch, bảo vệ
    đồng đội. Trong tay còn hai quả lựu đạn, Lộc Viễn
    Tài chờ địch đến gần, giật nụ xòe, ném vào đội
    hình địch, tiêu diệt và làm bị thương gần chục
    tên, còn anh đã anh dũng hy sinh. Trong các trận
    chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc riêng anh đã
    diệt và làm bị thương 91 tên.
    Khi hy sinh, Lộc Viễn Tài là đảng viên Đảng
    Cộng sản Việt Nam, mang quân hàm Thượng úy.

    LỘC VIỄN TÀI

    15

    Tên anh cùng 16 cán bộ, chiến sĩ Đồn 155 hy sinh
    trong những năm bảo vệ biên giới đã được khắc
    trên bia đá đặt gần đồn biên phòng Lũng Làn để
    người dân đời đời tưởng nhớ công ơn1.
    Lộc Viễn Tài được truy tặng Huân chương
    Quân công hạng Ba. Ngày 19-12-1979, Lộc Viễn
    Tài được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng
    Lực lượng vũ trang nhân dân.

    _____________
    1. Xem http://thanhnien.vn/thoi-su/bien-cuong-noianh-nga-xuong-ky-2-noi-nui-da-khac-ten-436609.html

    16

    THANH MINH TÁM

    Anh hùng Thanh Minh Tám (A Núk) sinh
    năm 1935, là người dân tộc Hrê, quê ở xã Hiếu,
    huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum. Khi được tuyên
    dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Trung đội
    trưởng, Đại đội phó đặc công, Khu 9 Gia Lai.
    Mới 15 tuổi, Thanh Minh Tám đi theo cách
    mạng, ba năm liền làm liên lạc cho huyện đội,
    anh không quản ngại vất vả, khó khăn, liên tục
    chuyển công văn, chỉ thị của huyện xuống cơ sở
    một cách an toàn.
    Tháng 9-1953, Thanh Minh Tám vào bộ đội
    huyện. Năm 1954 được tập kết ra Bắc, đi học đặc
    công đến tháng 8-1960, anh trở về quê hương
    tham gia chiến đấu ở đại đội đặc công, làm Tiểu
    đội phó.
    Trong 6 năm, 1960-1966, Thanh Minh Tám đã
    đánh và chỉ huy đơn vị chiến đấu tại chiến trường
    Gia Lai, trưởng thành từ tiểu đội lên đại đội phó.
    Anh đã chỉ huy đơn vị đánh 16 trận lớn, nhỏ, cùng
    đơn vị diệt 3 trung đội bảo an, 2 tiểu đội dân vệ, 1
    đoàn bình định và 42 lính Mỹ. Đặc biệt trong trận

    THANH MINH TÁM

    17

    đánh vào sân bay Plâyku, Thanh Minh Tám đã
    chỉ huy đơn vị phá 42 máy bay, diệt 70 lính Mỹ.
    Riêng anh diệt 22 tên, thu 13 súng các loại, 3 máy
    bay thông tin PRC10, 1 thùng đạn, đánh sập 1
    nhà, diệt tên đại tá Mỹ chỉ huy sân bay, phá hủy 8
    máy bay1.
    Anh đã được tặng Huân chương Chiến công
    hạng Nhất, 7 bằng khen và giấy khen Dũng sĩ
    diệt Mỹ cấp ưu tú, Dũng sĩ diệt máy bay.
    Ngày 17-9-1967, Thanh Minh Tám được Ủy
    ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng
    miền Nam Việt Nam tặng thưởng danh hiệu Anh
    hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

    _____________
    1. Xem “24 đơn vị anh hùng và 46 cá nhân Anh
    hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam vừa được
    phong tặng”, Báo Quân đội nhân dân, số 2291, ngày
    13-10-1967, tr.3.

    18

    PI NĂNG TẮC

    Anh hùng Pi Năng Tắc sinh năm 1910, là
    người dân tộc Raglai, quê ở xã Phước Thành (nay
    thuộc huyện Bác Ái), huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh
    Thuận. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí
    là đảng viên, Chính trị viên phó Huyện đội.
    Anh tham gia cách mạng vào năm 1946. Trải
    qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống
    Mỹ, Pi Năng Tắc luôn chiến đấu hết mình, hoàn
    thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Năm
    1956, khi Mỹ - Diệm tiến hành dồn dân hai thôn
    của xã Phước Thành về khu tập trung. Năm 1958,
    Pi Năng Tắc trốn khỏi làng lên ở suốt sáu tháng
    trong rừng, luồn qua hoang rậm, trèo qua các
    dãy núi đá để liên lạc với các đồng chí đang hoạt
    động cách mạng. Ngày 30 Tết năm Kỷ Hợi 1959,
    Pi Năng Tắc cùng du kích quân và đồng bào
    thiểu số đã tập hợp lực lượng lên đến 5.000
    người, dùng vũ khí thô sơ đánh phá, đốt cháy các
    khu tập trung của địch. Anh đã tổ chức cho bà
    con kéo về làng cũ, lại cấy cày, chăn nuôi và

    PI NĂNG TẮC

    19

    huấn luyện các kỹ thuật chiến đấu để sẵn sàng
    chống lại các trận càn điên cuồng của giặc “cú vọ
    xâm lăng”.
    Sau đợt này, địch nghi ngờ, theo dõi gắt gao
    nên tổ chức buộc phải điều Pi Năng Tắc về hoạt
    động ở xã Phước Bình. Ở đây, cơ sở ta yếu, lại bị
    tề ngụy đàn áp, kích động mâu thuẫn giữa các
    dân tộc, tách dân tộc Churu rời xuống khu tập
    trung, còn dân tộc Raglai ở trên núi... Trong
    hoàn cảnh ấy, Pi Năng Tắc đã kiên trì tuyên
    truyền, thuyết phục nhân dân, khi thì lên núi ở
    với người Raglai, khi thì xuống khu tập trung ở
    với người Churu, vạch rõ âm mưu, thủ đoạn của
    địch, phân giải các mối bất hòa. Nhờ những nỗ
    lực của Pi Năng Tắc mà đến tháng 6-1960 đã có
    hơn 280 đồng bào1 bỏ khu “tập trung Tầm Ngân”
    trở về làng cũ làm ăn. Sau một thời gian, bà con
    hai dân tộc đã đoàn kết, họ cùng nhau tổ chức lễ
    uống rượu ăn thề giúp nhau sản xuất và đấu
    tranh chống địch. Ngoài ra, Pi Năng Tắc còn xây
    dựng được hai cơ sở bí mật hoạt động trong xã và
    vận động được ba tề điệp bỏ hàng ngũ địch về với
    cách mạng. Thấy quần chúng đã giác ngộ, anh
    cùng nhân dân phá khu tập trung, đưa đồng bào
    _____________
    1. Xem “Anh hùng quân đội Pi Năng Tắc - 20 năm
    trời kiên trì sản xuất và chiến đấu”, Báo Quân đội
    nhân dân, số 1524, ngày 25-5-1965, tr.3.

    20

    ANH HÙNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ - Tập 3

    lên núi, thành lập đội du kích, vót chông, gài mìn,
    đào hầm, rào làng ngăn chặn và đánh địch.
    Trong chiến đấu, Pi Năng Tắc đã có rất
    nhiều sáng kiến đánh giặc, trong đó phải kể đến
    bẫy đá. Anh cho đào vách núi, dựng các cây gỗ
    lớn làm giàn, xếp đá lên trên, có lẫy tre gỗ, khi
    giật lẫy là cả núi đá hộc lăn xuống giết giặc. Anh
    cho làm các bẫy nỏ, các mũi tên ẩn trong các tán
    lá, hễ có “động” là lập tức các mũi tên tre có tẩm
    thuốc độc bắn ra như mưa. Trong các tán rừng,
    còn có hệ thống tre nứa vót nhọn liên kết với
    nhau thành bè mảng buộc thêm đá hộc thật
    nặng, khi giật lẫy là chúng bay ra, cắm phập cả
    một giàn, một phên vào kẻ thù. Có khi một giàn
    chông xiên cả chục tên giặc một “nhát”. Trên mặt
    đất, họ đào sẵn các hố sâu, rải lá mục và cây
    rừng ngụy trang lên trên, khi giặc dẫm lên lá
    mục, tên từ lòng đất bay lên như mưa, tên từ
    trên tán rừng dội xuống vun vút, đặc biệt kinh
    hoàng là đá hộc to bằng cả gian nhà lăn như trời
    long đất lở... Liên tiếp các trận càn của giặc bị
    nghĩa quân Pi Năng Tắc bẻ gãy.
    Tháng 5-1960, địch càn lên núi bị du kích
    đánh, diệt và làm bị thương 20 tên buộc chúng
    phải rút chạy. Trận chống càn năm 1962, một tiểu
    đoàn lính ngụy, một đại đội lính bảo an, rồi cả
    lính Mỹ cùng tổ chức trận càn lớn lên Phước Bình,
    quyết tiêu diệt “đám giặc cỏ” lẩn lút trong rừng

    PI NĂNG TẮC

    21

    sâu. Từ trên núi cao, 3 tổ du kích đã được Pi Năng
    Tắc bố trí lừa, dụ địch vào ổ phục kích, 17 bẫy đá,
    nhiều mang cung, hầm chông và hàng vạn mũi
    tên tẩm thuốc độc đã ra sức tiêu diệt địch. Hơn
    100 tên chết thảm, ta thu về chiến lợi phẩm là
    5.000 viên đạn, 27 khẩu súng, nhiều quân trang
    quân dụng khác.
    Tháng 5-1961, giặc lại càn lần thứ hai với 350
    tên, có máy bay, đại bác yểm hộ. Pi Năng Tắc
    cùng đồng đội chờ cho địch lọt vào ổ phục kích rồi
    dùng cung tên, bẫy đá tiêu diệt chúng. Cuộc chiến
    đấu diễn ra suốt 3 tiếng đồng hồ từ 13 giờ đến 16
    giờ chiều. Trong trận chống càn này, du kích đã
    diệt và làm bị thương 80 tên1.
    Ngoài ra, Pi Năng Tắc còn có nhiều thành tích
    trong việc vận động phong trào sản xuất tự túc,
    xây dựng cuộc sống mới.
    Ngày 5-5-1965, Pi Năng Tắc được Nhà nước
    tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng
    hạng Nhì và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ
    trang nhân dân.

    _____________
    1. Xem “Anh hùng quân đội Pi Năng Tắc - 20 năm
    trời kiên trì sản xuất và chiến đấu”, Báo Quân đội
    nhân dân, số 1524, Tlđd, tr.3.

    22

    HOÀNG VĂN TẤM

    Anh hùng liệt sĩ Hoàng Văn Tấm là người dân
    tộc Thái, sinh năm 1958 tại xã Lay Nưa, huyện
    Mường Lay, tỉnh Lai Châu (nay là xã Lay Nưa,
    thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên).
    Tháng 10-1975, Hoàng Văn Tấm tốt nghiệp
    chương trình nghiệp vụ công an, được điều về
    công tác tại Phòng Cảnh sát bảo vệ, Ty Công an
    Lai Châu và được đề bạt làm Tiểu đội trưởng.
    Tháng 2-1979, chiến tranh biên giới phía
    Bắc xảy ra. Lúc này, với cương vị là Trung đội
    phó, Hoàng Văn Tấm đã cùng các đồng đội trong
    đơn vị vận động quần chúng chuẩn bị tinh thần
    sẵn sàng sơ tán về tuyến sau. Trong trận chiến
    đấu bảo vệ chốt C5, trước sự tấn công quyết liệt
    của địch, Hoàng Văn Tấm đã cùng đồng đội
    chặn đứng nhiều đợt tấn công của chúng, riêng
    đồng chí đã tiêu diệt trên 10 tên địch và làm bị
    thương nhiều tên khác. Trong trận chiến này,
    Hoàng Văn Tấm và các đồng đội đã giữ vững
    được chốt, nhưng do lực lượng quá chênh lệch,

    HOÀNG VĂN TẤM

    23

    đồng chí đã anh dũng hy sinh ngay tại chiến
    hào ngày 6-3-1979.
    Ngày 13-8-1980, Hoàng Văn Tấm được Nhà
    nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ
    trang nhân dân. Khi hy sinh đồng chí là Trung
    đội phó thuộc Tiểu đoàn Cảnh sát bảo vệ cơ động
    Công an tỉnh Lai Châu.

    24

    NGUYỄN VĂN TẤN
    Anh hùng Nguyễn Văn Tấn là người dân tộc
    Tày, sinh năm 1942, tại xã Hà Vị, huyện Bạch
    Thông, tỉnh Bắc Kạn. Khi được tuyên dương Anh
    hùng, đồng chí là đảng viên, Chuẩn úy, Trung đội
    trưởng sửa chữa xe tăng thuộc Đại đội 201, Tổng
    cục Hậu cần.
    Từ năm 1967 đến năm 1973, Nguyễn Văn Tấn
    làm nhiệm vụ sửa chữa xe tăng, xe xích cho các
    đơn vị chiến đấu ở Khu 4, Quảng Trị, đường 9 Nam Lào. Mặc dù địch đánh phá ác liệt, anh vẫn
    thường xuyên theo sát các đơn vị chiến đấu để sửa
    chữa xe. Bất kỳ lúc nào gặp xe hỏng mà cần sửa
    gấp là anh làm ngay. Hàng chục lần đang sửa thì
    máy bay địch đến bắn phá, anh vẫn bình tĩnh
    thực hiện nhiệm vụ; ba lần bom nổ, bị đất đá vùi
    lấp, ngất đi, khi tỉnh dậy anh lại tiếp tục công
    việc. Anh chỉ huy trung đội sửa chữa được 150 lần
    chiếc xe tăng, xe xích. Riêng anh sửa 60 lần chiếc
    xe, phục vụ kịp thời cho chiến đấu.
    Mặc dù là thợ sửa chữa điện xe nhưng do chịu
    khó học hỏi, anh đã sửa chữa giỏi nhiều bộ phận
    khác của xe tăng, xe xích (cả của ta và của địch)

    NGUYỄN VĂN TẤN

    25

    và lái thành thạo các loại xe. Đặc biệt, Nguyễn
    Văn Tấn luôn tích cực phát huy sáng kiến, cải
    tiến kỹ thuật, trong đó có rất nhiều sáng kiến đã
    được phổ biến trong các đơn vị nhờ đó mà các đơn
    vị sửa chữa xe tăng ngày càng đạt được hiệu quả
    cao trong công tác, như: nghiên cứu cải tiến ly hợp
    của xe D-350 thay thế cho xe PT-C bảo đảm tốt;
    cải tiến rà nấm xe AT-C trước đây hai người làm
    mất 36 giờ, nay một người làm trong 20 giờ; trước
    kia muốn kéo bánh tì xe AT-R thông thường phải
    dùng búa đóng, nay anh làm thêm một bộ phận
    tăng giảm xích, tạo thành một cái van tháo bánh
    tì, đưa năng suất tăng gấp 3 lần; trước đây một
    cái phớt dạ bánh tì hỏng sẽ không có phớt thay
    thế, xe không hoạt động được thì nay anh có sáng
    kiến dùng xăm, lốp ô tô cắt làm phớt, giải quyết
    được khó khăn cho đơn vị,...
    Anh đã 214 lần kéo giúp xe của đơn vị bị đổ
    dọc đường, đào bới hầm bị bom đánh sập cứu
    được 5 đồng đội, giúp đỡ nâng cao tay nghề cho 24
    thợ sửa chữa.
    Nhờ những thành tích đã đạt được trong công
    tác, Nguyễn Văn Tấn được tặng thưởng 2 Huân
    chương Chiến công hạng Ba, 4 lần là Chiến sĩ
    quyết thắng, 6 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ
    thi đua, 24 bằng khen, giấy khen.
    Ngày 31-12-1973, Nguyễn Văn Tấn được Nhà
    nước tặng thưởng danh hiệu Anh hùng Lực lượng
    vũ trang nhân dân.

    26

    TRIỆU XUÂN TÂNG

    Anh hùng Triệu Xuân Tâng (tức Triệu Xuân
    Công) sinh năm 1946, là người dân tộc Nùng, quê
    ở xã Quốc Dân, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao
    Bằng. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí
    là đảng viên, Thượng sĩ, Trung đội trưởng bộ binh
    thuộc đoàn 28, Quân khu Tây Bắc.
    Triệu Xuân Tâng làm nhiệm vụ giúp Lào
    xây dựng cơ sở cách mạng ở tỉnh Luông Pha
    Băng từ năm 1967 đến năm 1973. Anh kiên trì
    bám đất, bám dân, tuyên truyền vận động quần
    chúng tham gia phong trào cách mạng. Trong
    chiến đấu, Triệu Xuân Tâng thể hiện tinh thần
    tiến công tiêu diệt địch cao, chỉ huy trung đội
    tiêu diệt trên 100 tên địch, bản thân diệt 26 tên.
    Tháng 2-1968, anh cùng một chiến sĩ đi xây
    dựng cơ sở ở bắc Huôi Nhang thì bị lộ, địch bao
    vây, đánh úp. Đồng đội hy sinh, một mình anh
    kiên cường đánh trả địch, diệt 8 tên. Khi rút,
    Triệu Xuân Tâng còn cõng đồng đội về mai táng
    chu đáo.

    TRIỆU XUÂNG TÂNG

    27

    Trận đánh Phu Đăm ngày 14-4-1972, anh chỉ
    huy tổ mũi nhọn đánh thọc vào giữa vị trí địch,
    diệt sở chỉ huy, tạo điều kiện thuận lợi cho đồng
    đội tiến lên diệt đại đội của địch. Trong trận này,
    riêng anh diệt được 20 tên địch.
    Không chỉ hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu
    mà Triệu Xuân Tâng còn làm tốt nhiệm vụ xây
    dựng cơ sở cách mạng. Anh đã cùng sống, cùng lao
    động với nhân dân Lào và kiên trì học nói, đọc và
    viết thành thạo ngôn ngữ bản địa, nhờ vậy mà
    việc tuyên truyền giáo dục quần chúng nhân dân
    có kết quả rất tốt. Triệu Xuân Tâng đã cùng các
    cán bộ địa phương xây dựng được cơ sở cách mạng
    ở 10 xã, bồi dưỡng được 7 cán bộ trong huyện.
    Với những cống hiến của mình anh đã được
    tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công hạng
    Nhì, 1 Huân chương Chiến công hạng Ba, 6 bằng
    khen, giấy khen.
    Ngày 31-12-1973, Triệu Xuân Tâng được Chủ
    tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng
    thưởng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang
    nhân dân.

    28

    TÀO VĂN TEM

    A
     
    Gửi ý kiến

    BẢN TIN THƯ VIỆN

    Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    Chuyên đề cấp cụm

    Chuyên đề cấp Thành phố

    Phóng sự chuyển đổi số