Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Đinh Thị Thu Thủy
Ngày gửi: 23h:09' 09-12-2025
Dung lượng: 6.7 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Đinh Thị Thu Thủy
Ngày gửi: 23h:09' 09-12-2025
Dung lượng: 6.7 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
1 người
(Đinh Thị Thu Thủy)
HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN
Chủ tịch Hội đồng
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
TRẦN THANH LÂM
Phó Chủ tịch Hội đồng
Giám đốc - Tổng Biên tập
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
PHẠM MINH TUẤN
Thành viên
NGUYỄN HOÀI ANH
PHẠM THỊ THINH
NGUYỄN ĐỨC TÀI
TỐNG VĂN THANH
2
Tập thể tác giả
PGS.TS. VŨ THỊ PHƯƠNG HẬU (Chủ biên)
PGS.TS. NGUYỄN DUY BẮC
TS. LƯƠNG HUYỀN THANH
TS. NGUYỄN HUY PHÒNG
TS. NGHIÊM THỊ THU NGA
ThS. NGUYỄN DUY THÁI
ThS. LÊ THỊ TRANG
ThS. NGUYỄN THỊ THANH THÚY
4
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
C
hủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một lãnh tụ
thiên tài, Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà hoạt
động chính trị lỗi lạc, mà còn là một danh nhân văn
hóa kiệt xuất. Người là hiện thân của nền văn hóa mới
Việt Nam, là mẫu mực của con người mới Việt Nam.
Trong di sản tinh thần đồ sộ Người để lại, tư tưởng
Hồ Chí Minh về văn hóa mang ý nghĩa thời đại, là
ngọn đuốc soi đường cho văn hóa Việt Nam ngày càng
phát triển, hòa nhập vào dòng chảy văn hóa nhân loại.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao việc
xây dựng, bồi đắp nền văn hóa dân tộc, coi văn hóa là
một trong bốn trụ cột phát triển của đất nước, bên
cạnh kinh tế, chính trị, xã hội. Đi sâu vào những lĩnh
vực văn hóa cụ thể: văn học, nghệ thuật, giáo dục, báo
chí..., Người nêu bật những đặc trưng, nhiệm vụ của
từng ngành, cũng như yêu cầu về đạo đức, lối sống,
năng lực, nghiệp vụ của cán bộ đáp ứng sự nghiệp phát
triển văn hóa. Đội ngũ văn nghệ sĩ, các nhà giáo, nhà
báo, cán bộ văn hóa... là nguồn nhân lực chủ chốt trong
xây dựng đời sống mới, phát triển văn hóa nước nhà,
góp phần định hướng những giá trị chân, thiện, mỹ, bồi
dưỡng phẩm chất con người Việt Nam. Những lời chỉ dạy
5
của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cả cuộc đời hiến dâng cho
tự do, độc lập dân tộc, hạnh phúc nhân dân của Người
là tấm gương ngời sáng, có sức cảm hóa, lay động lớp
lớp thế hệ người dân đất Việt.
Bảo tồn, gìn giữ, phát huy những giá trị văn hóa
vật thể và phi vật thể trong di sản văn hóa dân tộc
theo tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa hết sức quan
trọng, để giữ vững bản lĩnh, cốt cách dân tộc đi đôi với
tiếp biến, giao lưu, học hỏi những giá trị tiến bộ của
nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc.
Cuốn sách Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa
do PGS.TS. Vũ Thị Phương Hậu làm chủ biên đã đi
sâu phân tích, làm rõ những quan điểm lý luận và thực
tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa nói chung
và các lĩnh vực văn hóa nói riêng trên nhiều bình diện.
Những quan điểm, định hướng phát triển nền văn hóa
dân tộc do Người đề ra mang đậm tính nhân văn, đến
nay vẫn vẹn nguyên giá trị và được Đảng ta kế thừa,
vận dụng vào lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi
những nhiệm vụ cách mạng thời kỳ mới.
Xin giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 11 năm 2022
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
LỜI GIỚI THIỆU
N
ăm 1923, trong cuộc gặp gỡ, trò chuyện với
Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc đó Người mang
tên Nguyễn Ái Quốc), nhà thơ, nhà báo trẻ người
Nga Ôxíp Manđenxtam đã nhận thấy “từ Nguyễn
Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải
văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hóa
tương lai”. “Nền văn hóa tương lai” mà Đảng, Nhà
nước, nhân dân Việt Nam đã và đang xây dựng,
kiến tạo có ánh sáng soi đường từ những tư tưởng,
quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là tư
tưởng về xây dựng một nền văn hóa thấm đẫm
tinh thần dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học.
Ghi nhận những đóng góp của Người với dân tộc và
nhân loại, UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học
và Văn hóa Liên hợp quốc) đã ra Nghị quyết về kỷ
niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, tôn vinh Người là “Anh hùng giải phóng dân
tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”.
Tư tưởng của Người qua các trước tác, qua
chính cuộc đời hoạt động cách mạng tận hiến,
tận trung với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân là
tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam.
Nhằm thiết thực triển khai có hiệu quả Kết
luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị
7
về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày
15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy
mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức,
phong cách Hồ Chí Minh"; đưa Nghị quyết Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng vào
cuộc sống cũng như cụ thể hóa tinh thần chỉ đạo
của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị
văn hóa toàn quốc (ngày 24/11/2021), nhóm tác
giả đã tiến hành tổ chức biên soạn cuốn sách Tư
tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa.
Nội dung cuốn sách đề cập một cách cơ bản
nhất, ngắn gọn, dễ nhớ, dễ hiểu các quan điểm, tư
tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa, được
triển khai theo các luận điểm, vấn đề: Ý nghĩa, vai
trò của văn hóa trong phát triển đất nước; Những
điểm lớn trong xây dựng nền văn hóa dân tộc; Về
xây dựng đời sống mới; Bảo tồn và phát huy giá trị
di sản văn hóa dân tộc; Vai trò của văn học, nghệ
thuật và sứ mệnh của người nghệ sĩ; Mối quan hệ
giữa văn hóa với kinh tế và chính trị; Tính chất,
đặc trưng của báo chí cách mạng Việt Nam; Vai trò
của đội ngũ cán bộ văn hóa; Vai trò, sứ mệnh của
nhà giáo và tính chất của nền giáo dục mới.
Mặc dù các tác giả đã có nhiều cố gắng trong
quá trình biên soạn nhưng chắc chắn không tránh
khỏi những thiếu sót, khiếm khuyết. Rất mong
nhận được những ý kiến góp ý của bạn đọc để lần
xuất bản sau cuốn sách được hoàn thiện hơn.
TẬP THỂ TÁC GIẢ
8
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
VỀ KHÁI NIỆM, VAI TRÒ, QUY LUẬT
VẬN ĐỘNG VÀ NHỮNG ĐIỂM LỚN KHI
XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC
T
ư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan
điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ
bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận
dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin
vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát
triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc,
tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh
thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc
ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng
của nhân dân ta giành thắng lợi.
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn
dân, toàn quân một di sản đồ sộ, phong phú, đề
cập đến nhiều vấn đề quan trọng, như: tư tưởng
về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải
phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với
9
sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân,
của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ
của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của
dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây
dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về đạo đức
cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư;
về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời
sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh,
cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là
người đầy tớ thật trung thành của nhân dân…,
trong đó có tư tưởng của Người về chăm lo, phát
triển văn hóa, con người, xây dựng đời sống mới
nhằm không ngừng nâng cao đời sống tinh thần
của nhân dân.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa là sự kết
tinh những tinh hoa văn hóa của dân tộc qua
hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước,
là hiện thân cho khát vọng vươn lên, khẳng định
bản sắc văn hóa dân tộc trên bước đường phát
triển. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
văn hóa có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với
công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, đặc
biệt là sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong bối cảnh
hội nhập quốc tế hiện nay.
1. Quan niệm về văn hóa
Văn hóa là một hiện tượng xã hội có phạm vi biểu
hiện rất rộng. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh
10
về văn hóa, có thể thấy Người quan niệm về văn
hóa theo ba cách hiểu:
Thứ nhất, văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng
nhất - đó là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh
thần do loài người sáng tạo ra để đáp ứng nhu cầu
tồn tại và phát triển của mình trong tiến trình đi
lên của lịch sử. Văn hóa là đặc trưng của toàn bộ
đời sống của loài người. Xây dựng văn hóa là xây
dựng tất cả các mặt của đời sống xã hội và quan
tâm đến trình độ phát triển của con người.
Thứ hai, văn hóa được hiểu theo nghĩa hẹp
hơn - đó là những giá trị tinh thần, là đời sống
tinh thần của xã hội như đạo đức, tín ngưỡng, tôn
giáo, thẩm mỹ, tâm linh, nghệ thuật... Như vậy
văn hóa chỉ là một mặt, chứ không phải toàn bộ
đời sống xã hội loài người.
Thứ ba, văn hóa được hiểu theo nghĩa hẹp
nhất - đó là trình độ học vấn của con người.
Tùy từng thời kỳ, Người đã sử dụng khái
niệm văn hóa với những nội hàm rộng hẹp khác
nhau. Nhưng khi đi vào xây dựng nền văn hóa
mới, Người đã coi văn hóa là đời sống tinh thần,
thuộc về kiến trúc thượng tầng, để có sự phân
biệt tương đối với các lĩnh vực khác của đời sống
xã hội.
Trong Mục đọc sách ở phần cuối tập Nhật ký
trong tù (1942-1943), lần đầu tiên Chủ tịch Hồ
Chí Minh nêu ra một định nghĩa về văn hóa:
11
“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc
sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra
ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học,
tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho
sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương
thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát
minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của
mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của
nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng
với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”1.
Quan niệm về văn hóa của Hồ Chí Minh ra
đời trong một bối cảnh không gian và thời gian
đặc biệt, khi cả nước đang tập trung vào nhiệm
vụ giải phóng dân tộc. Điều này cho thấy Người
đã sớm nhận thức về vai trò và sứ mệnh của văn
hóa trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Định
nghĩa trên đã bao chứa nhiều nội dung: văn hóa
là sự phát triển tự thân và tất yếu, mang tính
xã hội cao, do nhu cầu tồn tại của con người;
văn hóa là phương thức hoạt động và không
ngừng nâng cao phương thức theo tiến triển xã
hội; trong cái chung về phương thức hoạt động
có cái riêng về công cụ cho sinh hoạt hằng ngày.
Từ các mặt đó, có thể thấy vai trò sáng tạo và
giá trị nhân văn đã trở thành cốt lõi của văn hóa.
_____________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia
Sự thật, Hà Nội, 2011, t.3, tr.458.
12
Văn hóa là sự phát huy và hiện thực hoá các
năng lực bản chất của con người. Con người là
chủ thể sáng tạo của văn hóa, đồng thời văn hóa
là phương thức sinh tồn, là môi trường sống của
con người.
Như vậy, văn hóa theo quan niệm của Chủ
tịch Hồ Chí Minh được hiểu theo nghĩa rộng
nhất. Đó là toàn bộ những giá trị vật chất và
những giá trị tinh thần mà loài người sáng tạo ra
nhằm đáp ứng lẽ sinh tồn, đồng thời cũng là mục
đích sống của loài người. Nguồn gốc và động lực
sâu xa của văn hóa chính là nhu cầu thực tiễn
của con người, thúc đẩy con người sáng tạo, cải
tạo tự nhiên và xã hội, tạo ra những giá trị vật
chất và tinh thần phục vụ tốt hơn nhu cầu của
mình, đây cũng chính là quá trình sáng tạo văn
hóa của con người.
Điều thú vị là khi đối chiếu với một số định
nghĩa khái quát về văn hóa do UNESCO (Tổ chức
Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc)
đưa ra gần nửa thế kỷ sau đó, chúng ta chỉ thấy
khác nhau về cách diễn đạt, còn về cơ bản ý nghĩa
của văn hóa thì không khác biệt với lập luận của
Hồ Chí Minh. Văn hóa trong quan niệm của Người
và UNESCO gặp nhau ở sự tương đồng về cấu trúc
văn hóa, tính đặc trưng riêng biệt của văn hóa, hay
hệ thống những giá trị về vật chất và tinh thần,
cách ứng xử của con người, vai trò của văn hóa
13
đối với tiến trình phát triển của dân tộc và nhân
loại. Theo nghĩa đó, văn hóa chính là hồn cốt của
một quốc gia, dân tộc, làm nên sức sống, diện mạo
và cốt cách của quốc gia, dân tộc đó trong lịch sử.
Đây chính là tầm nhìn, là cống hiến to lớn của
Người vào kho tàng trí tuệ của nhân loại.
2. Vai trò của văn hóa
Kế thừa những truyền thống tốt đẹp của dân
tộc, được ánh sáng khoa học, cách mạng và nhân
văn của chủ nghĩa Mác - Lênin rọi chiếu, Hồ Chí
Minh đã nhận thức được tầm quan trọng của văn
hóa đối với đời sống con người, đối với sự nghiệp
giải phóng xã hội và canh tân đất nước, đối với
việc xây dựng tình đoàn kết và sự hiểu biết, xích
lại gần nhau giữa các dân tộc.
Từ sau Cách mạng Tháng Tám, văn hóa đã
được Người xác định là đời sống tinh thần của xã
hội, là thuộc về kiến trúc thượng tầng. Văn hóa
được đặt ngang hàng với chính trị, kinh tế, xã hội,
tạo thành bốn vấn đề chủ yếu của đời sống xã
hội: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà, có bốn
vấn đề cần chú ý, cũng phải coi là quan trọng
ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa.
Nhưng văn hóa là một kiến trúc thượng tầng”1.
_____________
1. Hồ Chí Minh: Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt
trận, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1984, tr.34.
14
Đồng thời, trong quan hệ của bốn thành tố trên,
Hồ Chí Minh chỉ rõ vai trò quyết định của chính
trị và kinh tế đối với sự phát triển của văn hóa.
Văn hóa thuộc kiến trúc thượng tầng, gắn bó hữu
cơ với cơ sở hạ tầng, vì thế, từ trong bản chất và
tuân thủ quy luật chung, văn hóa ở trong kinh tế
và chính trị, văn hóa không thể đứng ngoài, mà có
nhiệm vụ góp phần thúc đẩy xây dựng và phát
triển kinh tế, phục vụ sự nghiệp cách mạng của
nhân dân, trở thành một động lực to lớn, chủ động
tác động tích cực trở lại đối với kinh tế và chính trị.
Văn hóa của một dân tộc thể hiện trước hết ở trình
độ dân trí, ở tầm cao trí tuệ, sự nhận thức của
người dân về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm
của mình đối với đất nước.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức
rất rõ về vai trò và sức mạnh của văn hóa trong
công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây
dựng đất nước. Năm 1946, tình thế cách mạng
Việt Nam như “ngàn cân treo sợi tóc”, thực dân
Pháp tiếp tục gây hấn, ngày 24/11/1946 Hội
nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất đã được
diễn ra trọng thể tại Nhà hát Lớn (Hà Nội) với
hơn 200 đại biểu là đại diện cho Chính phủ,
Quốc hội và các nhà hoạt động văn hóa trên
toàn quốc tham dự. Trong diễn văn khai mạc
Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định
vai trò, sức mạnh của văn hóa: “Văn hóa phải
15
soi đường cho quốc dân đi”1. Với ý nghĩa đó, văn
hóa có vai trò động lực đối với sự phát triển của
đất nước, trước mắt là chấn hưng nền văn hóa
dân tộc, tạo nền tảng vững chắc để phát triển đất
nước và đem đến những thắng lợi cho cách mạng
nước nhà.
Người nêu nhiệm vụ của văn hóa mới là phải
lấy hạnh phúc của đồng bào, sự nghiệp đấu tranh
của dân tộc làm nội dung phản ánh, đồng thời
phải tiếp thu những kinh nghiệm của văn hóa
xưa và nay để xây dựng nền văn hóa mới Việt
Nam với ba tính chất: dân tộc, khoa học, đại
chúng. Người nêu rõ vị trí, ảnh hưởng của văn
hóa, nghệ thuật trong việc giáo dục thế hệ trẻ,
xây dựng con người Việt Nam yêu nước, độc lập,
tự chủ. Mặc dù chỉ họp trong một ngày trước khi
rời Hà Nội lên Việt Bắc chuẩn bị cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp, nhưng Hội nghị văn
hóa toàn quốc lần thứ nhất đã đặt cơ sở cho việc
xây dựng nền văn hóa mới của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa.
Sau Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất,
một phong trào kháng chiến hóa văn hóa và văn
hóa hóa kháng chiến dưới sự lãnh đạo của Đảng
đã trở thành cuộc cách mạng mở rộng. Đảng ta
xác định vai trò, nhiệm vụ to lớn của văn hóa lúc
_____________
1. Xem Báo Cứu quốc, ngày 25/11/1946.
16
này là phục vụ cho công cuộc kháng chiến. Những
nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ dùng ngòi bút, tài năng
của mình để cho ra đời các tác phẩm tuyên truyền,
thông tin về chiến sự, kể những mẩu chuyện
kháng chiến cho dễ nghe, dễ hiểu. Dưới ngọn cờ
“Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi” mà Chủ
tịch Hồ Chí Minh luôn nêu cao trong suốt cuộc đời
hoạt động cách mạng của mình, toàn Đảng, toàn
quân, toàn dân ta đã cùng nhau chung sức, đồng
lòng xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, để văn hóa thực
sự phát huy vai trò động lực, nguồn lực nội sinh
quan trọng cho sự phát triển của đất nước.
3. Quy luật vận động của văn hóa
Một nền văn hóa lớn mạnh, giàu bản sắc phụ
thuộc vào nhiều yếu tố, đó là sức nghĩ, sức sáng
tạo của các thế hệ người dân quốc gia đó; là quá
trình không ngừng kế thừa, phát huy, lan tỏa giá
trị văn hóa của các thế hệ nối tiếp, đồng thời đó là
quá trình người dân không ngừng sáng tạo, bổ
sung thêm những giá trị mới để bồi đắp, làm giàu
đẹp thêm nền văn hóa dân tộc.
Với cái nhìn duy vật lịch sử, biện chứng của
chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh
cho rằng sự vận động của văn hóa chịu ảnh
hưởng, chi phối, tác động của nhiều lĩnh vực như
kinh tế, chính trị, xã hội. Văn hóa không thể
17
đứng ngoài, thoát ly khỏi nền tảng kinh tế, vật
chất và cơ sở hạ tầng của chế độ. Tuy nhiên văn
hóa là lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm, tinh tế, nó có
đời sống riêng với những quy luật vận động
mang tính đặc thù, nó có tính độc lập tương đối
và tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng, thể chế
kinh tế, chính trị - xã hội.
Xét trong phạm vi của một nền văn hóa cụ
thể, có thể thấy nền văn hóa không đứng im,
không thể tồn tại một cách biệt lập, không thể
khép mình, đóng cửa với thế giới mà văn hóa
luôn luôn vận động, sáng tạo, biến đổi không
ngừng với nhiều giá trị mới được sản sinh cũng
như tự đào thải những cái lạc hậu, chậm tiến để
phát triển, đi lên.
Bản sắc của một nền văn hóa không chỉ là quá
trình sáng tạo, bồi đắp của các thế hệ mà là quá
trình cộng đồng, dân tộc không ngừng học tập, cải
biến, tiếp thu, vận dụng một cách sáng tạo những
giá trị tinh hoa văn hóa nhân loại.
Nhấn mạnh vào quy luật giao lưu - tiếp biến
của nền văn hóa dân tộc, phát biểu tại Hội nghị
văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (năm 1946), Chủ
tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Văn hóa Việt Nam
là ảnh hưởng lẫn nhau của văn hóa Đông phương
và Tây phương chung đúc lại... Tây phương hay
Đông phương có cái gì tốt, ta học lấy để tạo ra một
nền văn hóa Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh nghiệm
18
tốt của văn hóa xưa và văn hóa nay, trau dồi cho
văn hóa Việt Nam thật có tinh thần thuần túy
Việt Nam để hợp với tinh thần dân chủ”1.
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh có 30 năm bôn ba hải ngoại, đặt chân
đến nhiều quốc gia, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa,
nhiều lớp người khác nhau trong xã hội, Người
cũng đã nhanh chóng tiếp thu, vận dụng những cái
hay, tiến bộ, phù hợp của các nền văn hóa, từ tư
tưởng, học thuyết đến lối sống, phong tục tập quán,
cách ăn, cách nói, cách dùng từ, cách viết... vào
điều kiện, hoàn cảnh của nước ta, được diễn đạt,
“Việt hóa” bằng ngôn ngữ giản dị, trong sáng, dễ
thuộc, dễ nhớ, dễ tiếp thu, ứng dụng để làm giàu
đẹp thêm vốn văn hóa truyền thống.
Về đặc trưng, bản chất của nền văn hóa Việt Nam,
theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa Việt Nam là
kết quả của quá trình giao lưu, tương tác, gặp gỡ
của các nền văn hóa Đông phương và Tây phương
với những giá trị nhân văn, tiến bộ được các thế
hệ người dân Việt Nam không ngừng học tập, cải
biến và vận dụng sáng tạo vào điều kiện, hoàn
cảnh của nước ta.
Người căn dặn những người làm công tác văn
hóa, văn nghệ phải ra sức học tập, tiếp thu tinh
_____________
1. Hồ Chí Minh: Về công tác văn hóa văn nghệ,
Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1971, tr.71.
19
hoa văn hóa nhân loại, đồng thời kế thừa, tiếp thu
những cái tốt, cái đẹp, cái tinh túy của văn hóa
xưa và văn hóa nay để tạo ra một nền văn hóa
mới mang đậm tinh thần, cốt cách, bản sắc dân
tộc, phù hợp với tinh thần dân chủ. Đó là nền văn
hóa của nhân dân, do nhân dân sáng tạo và nhân
dân là chủ thể thực hành, thụ hưởng thành quả
của nền văn hóa đó.
Bên cạnh việc ra sức học tập, tiếp thu, vận
dụng sáng tạo tinh hoa văn hóa nhân loại, Người
cũng lưu ý đến một quy luật mang tính phổ biến
trong phát triển, xây dựng nền văn hóa dân tộc,
đó là quy luật kế thừa.
Những sáng tạo về văn hóa gắn liền với dòng
chảy lịch sử của dân tộc. Mỗi giai đoạn, thời kỳ,
các thế hệ người dân Việt Nam lại sáng tạo ra
những giá trị văn hóa độc đáo, phù hợp với cách
nghĩ, cách cảm, tư duy và trình độ của con
người cũng như những đòi hỏi từ thực tiễn cuộc
sống. Những sáng tạo, phát minh đó gắn liền
với lịch sử, ghi dấu những giai đoạn, thời kỳ lịch
sử nhất định, một đi không trở lại, không thể
tái tạo, tái sinh. Vì thế để tạo nền văn hóa
thống nhất trong đa dạng, giàu bản sắc, việc
bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn
hóa truyền thống, văn hóa cổ xưa là trách
nhiệm của hậu thế, bảo đảm tính liền mạch
trong phát triển văn hóa.
20
Đề cập đến vấn đề này, trong Sắc lệnh số 65/SL
ngày 23/11/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm
thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ
tịch Hồ Chí Minh ký đã nói lên tầm quan trọng,
cần thiết về vấn đề bảo tồn cổ tích trên toàn cõi
Việt Nam. Sau này trong tác phẩm Đời sống mới
(1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến
những nguyên tắc của việc xây dựng đời sống
mới, không phải cái gì cũ cũng bỏ hết; cái gì cũ
mà xấu, thì phải bỏ; cái gì cũ mà tốt, thì phải
phát triển thêm. Với cái nhìn biện chứng, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những nguyên tắc,
yêu cầu khi xây dựng đời sống mới cũng như xây
dựng nền văn hóa dân tộc, phải biết trân trọng,
kế thừa thành quả của các thế hệ đi trước, đồng
thời ra sức gìn giữ, phát huy để cái hay, cái đẹp
được nảy nở, lan tỏa rộng rãi trong cộng đồng,
nhân lên những giá trị tốt đẹp.
Thông qua những hành động, việc làm, lời nói
cụ thể, qua cung cách ứng xử hằng ngày của
Người với công việc, với cán bộ, nhân dân đã toát
lên tinh thần nhân văn Hồ Chí Minh, biểu tượng
sinh động của quá trình không ngừng tiếp thu
tinh hoa văn hóa nhân loại cũng như kế thừa, học
tập, phát huy những nét đẹp trong văn hóa truyền
thống để xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam
tiên tiến, giàu bản sắc.
21
Kế thừa tư tưởng, quan điểm của Chủ tịch
Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hóa dân tộc,
Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt quá trình
lãnh đạo nhân dân thực hiện công cuộc kháng
chiến, kiến quốc, xây dựng cuộc đời mới đều nhất
quán quan điểm khi nhấn mạnh: “Văn hóa Việt
Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động
sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ
nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết
quả giao lưu và tiếp thụ tinh hoa của nhiều nền
văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện
mình. Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên
tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm
rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc.
Trong thời đại Hồ Chí Minh, với đường lối
đúng đắn và sáng tạo của Đảng ta, văn hóa Việt
Nam tiếp tục được phát huy, đã góp phần quyết
định vào những thắng lợi to lớn của nhân dân ta
trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và
xây dựng chủ nghĩa xã hội”1.
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quy
luật vận động của văn hóa là những chỉ dẫn quan
trọng trong quá trình xây dựng, phát triển nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc hiện nay.
_____________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập,
Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2015, t.57, tr.293.
22
4. Năm điểm lớn khi xây dựng nền văn hóa
dân tộc
Sau khi nêu quan điểm, ý kiến về ý nghĩa, nội
hàm của văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra
những nhiệm vụ quan trọng để xây d
Chủ tịch Hội đồng
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
TRẦN THANH LÂM
Phó Chủ tịch Hội đồng
Giám đốc - Tổng Biên tập
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
PHẠM MINH TUẤN
Thành viên
NGUYỄN HOÀI ANH
PHẠM THỊ THINH
NGUYỄN ĐỨC TÀI
TỐNG VĂN THANH
2
Tập thể tác giả
PGS.TS. VŨ THỊ PHƯƠNG HẬU (Chủ biên)
PGS.TS. NGUYỄN DUY BẮC
TS. LƯƠNG HUYỀN THANH
TS. NGUYỄN HUY PHÒNG
TS. NGHIÊM THỊ THU NGA
ThS. NGUYỄN DUY THÁI
ThS. LÊ THỊ TRANG
ThS. NGUYỄN THỊ THANH THÚY
4
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
C
hủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một lãnh tụ
thiên tài, Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà hoạt
động chính trị lỗi lạc, mà còn là một danh nhân văn
hóa kiệt xuất. Người là hiện thân của nền văn hóa mới
Việt Nam, là mẫu mực của con người mới Việt Nam.
Trong di sản tinh thần đồ sộ Người để lại, tư tưởng
Hồ Chí Minh về văn hóa mang ý nghĩa thời đại, là
ngọn đuốc soi đường cho văn hóa Việt Nam ngày càng
phát triển, hòa nhập vào dòng chảy văn hóa nhân loại.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao việc
xây dựng, bồi đắp nền văn hóa dân tộc, coi văn hóa là
một trong bốn trụ cột phát triển của đất nước, bên
cạnh kinh tế, chính trị, xã hội. Đi sâu vào những lĩnh
vực văn hóa cụ thể: văn học, nghệ thuật, giáo dục, báo
chí..., Người nêu bật những đặc trưng, nhiệm vụ của
từng ngành, cũng như yêu cầu về đạo đức, lối sống,
năng lực, nghiệp vụ của cán bộ đáp ứng sự nghiệp phát
triển văn hóa. Đội ngũ văn nghệ sĩ, các nhà giáo, nhà
báo, cán bộ văn hóa... là nguồn nhân lực chủ chốt trong
xây dựng đời sống mới, phát triển văn hóa nước nhà,
góp phần định hướng những giá trị chân, thiện, mỹ, bồi
dưỡng phẩm chất con người Việt Nam. Những lời chỉ dạy
5
của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cả cuộc đời hiến dâng cho
tự do, độc lập dân tộc, hạnh phúc nhân dân của Người
là tấm gương ngời sáng, có sức cảm hóa, lay động lớp
lớp thế hệ người dân đất Việt.
Bảo tồn, gìn giữ, phát huy những giá trị văn hóa
vật thể và phi vật thể trong di sản văn hóa dân tộc
theo tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa hết sức quan
trọng, để giữ vững bản lĩnh, cốt cách dân tộc đi đôi với
tiếp biến, giao lưu, học hỏi những giá trị tiến bộ của
nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc.
Cuốn sách Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa
do PGS.TS. Vũ Thị Phương Hậu làm chủ biên đã đi
sâu phân tích, làm rõ những quan điểm lý luận và thực
tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa nói chung
và các lĩnh vực văn hóa nói riêng trên nhiều bình diện.
Những quan điểm, định hướng phát triển nền văn hóa
dân tộc do Người đề ra mang đậm tính nhân văn, đến
nay vẫn vẹn nguyên giá trị và được Đảng ta kế thừa,
vận dụng vào lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi
những nhiệm vụ cách mạng thời kỳ mới.
Xin giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 11 năm 2022
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
LỜI GIỚI THIỆU
N
ăm 1923, trong cuộc gặp gỡ, trò chuyện với
Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc đó Người mang
tên Nguyễn Ái Quốc), nhà thơ, nhà báo trẻ người
Nga Ôxíp Manđenxtam đã nhận thấy “từ Nguyễn
Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải
văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hóa
tương lai”. “Nền văn hóa tương lai” mà Đảng, Nhà
nước, nhân dân Việt Nam đã và đang xây dựng,
kiến tạo có ánh sáng soi đường từ những tư tưởng,
quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là tư
tưởng về xây dựng một nền văn hóa thấm đẫm
tinh thần dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học.
Ghi nhận những đóng góp của Người với dân tộc và
nhân loại, UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học
và Văn hóa Liên hợp quốc) đã ra Nghị quyết về kỷ
niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, tôn vinh Người là “Anh hùng giải phóng dân
tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”.
Tư tưởng của Người qua các trước tác, qua
chính cuộc đời hoạt động cách mạng tận hiến,
tận trung với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân là
tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam.
Nhằm thiết thực triển khai có hiệu quả Kết
luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị
7
về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày
15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy
mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức,
phong cách Hồ Chí Minh"; đưa Nghị quyết Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng vào
cuộc sống cũng như cụ thể hóa tinh thần chỉ đạo
của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị
văn hóa toàn quốc (ngày 24/11/2021), nhóm tác
giả đã tiến hành tổ chức biên soạn cuốn sách Tư
tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa.
Nội dung cuốn sách đề cập một cách cơ bản
nhất, ngắn gọn, dễ nhớ, dễ hiểu các quan điểm, tư
tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa, được
triển khai theo các luận điểm, vấn đề: Ý nghĩa, vai
trò của văn hóa trong phát triển đất nước; Những
điểm lớn trong xây dựng nền văn hóa dân tộc; Về
xây dựng đời sống mới; Bảo tồn và phát huy giá trị
di sản văn hóa dân tộc; Vai trò của văn học, nghệ
thuật và sứ mệnh của người nghệ sĩ; Mối quan hệ
giữa văn hóa với kinh tế và chính trị; Tính chất,
đặc trưng của báo chí cách mạng Việt Nam; Vai trò
của đội ngũ cán bộ văn hóa; Vai trò, sứ mệnh của
nhà giáo và tính chất của nền giáo dục mới.
Mặc dù các tác giả đã có nhiều cố gắng trong
quá trình biên soạn nhưng chắc chắn không tránh
khỏi những thiếu sót, khiếm khuyết. Rất mong
nhận được những ý kiến góp ý của bạn đọc để lần
xuất bản sau cuốn sách được hoàn thiện hơn.
TẬP THỂ TÁC GIẢ
8
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
VỀ KHÁI NIỆM, VAI TRÒ, QUY LUẬT
VẬN ĐỘNG VÀ NHỮNG ĐIỂM LỚN KHI
XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC
T
ư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan
điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ
bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận
dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin
vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát
triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc,
tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh
thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc
ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng
của nhân dân ta giành thắng lợi.
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn
dân, toàn quân một di sản đồ sộ, phong phú, đề
cập đến nhiều vấn đề quan trọng, như: tư tưởng
về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải
phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với
9
sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân,
của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ
của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của
dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây
dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về đạo đức
cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư;
về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời
sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh,
cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là
người đầy tớ thật trung thành của nhân dân…,
trong đó có tư tưởng của Người về chăm lo, phát
triển văn hóa, con người, xây dựng đời sống mới
nhằm không ngừng nâng cao đời sống tinh thần
của nhân dân.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa là sự kết
tinh những tinh hoa văn hóa của dân tộc qua
hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước,
là hiện thân cho khát vọng vươn lên, khẳng định
bản sắc văn hóa dân tộc trên bước đường phát
triển. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
văn hóa có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với
công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, đặc
biệt là sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong bối cảnh
hội nhập quốc tế hiện nay.
1. Quan niệm về văn hóa
Văn hóa là một hiện tượng xã hội có phạm vi biểu
hiện rất rộng. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh
10
về văn hóa, có thể thấy Người quan niệm về văn
hóa theo ba cách hiểu:
Thứ nhất, văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng
nhất - đó là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh
thần do loài người sáng tạo ra để đáp ứng nhu cầu
tồn tại và phát triển của mình trong tiến trình đi
lên của lịch sử. Văn hóa là đặc trưng của toàn bộ
đời sống của loài người. Xây dựng văn hóa là xây
dựng tất cả các mặt của đời sống xã hội và quan
tâm đến trình độ phát triển của con người.
Thứ hai, văn hóa được hiểu theo nghĩa hẹp
hơn - đó là những giá trị tinh thần, là đời sống
tinh thần của xã hội như đạo đức, tín ngưỡng, tôn
giáo, thẩm mỹ, tâm linh, nghệ thuật... Như vậy
văn hóa chỉ là một mặt, chứ không phải toàn bộ
đời sống xã hội loài người.
Thứ ba, văn hóa được hiểu theo nghĩa hẹp
nhất - đó là trình độ học vấn của con người.
Tùy từng thời kỳ, Người đã sử dụng khái
niệm văn hóa với những nội hàm rộng hẹp khác
nhau. Nhưng khi đi vào xây dựng nền văn hóa
mới, Người đã coi văn hóa là đời sống tinh thần,
thuộc về kiến trúc thượng tầng, để có sự phân
biệt tương đối với các lĩnh vực khác của đời sống
xã hội.
Trong Mục đọc sách ở phần cuối tập Nhật ký
trong tù (1942-1943), lần đầu tiên Chủ tịch Hồ
Chí Minh nêu ra một định nghĩa về văn hóa:
11
“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc
sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra
ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học,
tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho
sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương
thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát
minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của
mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của
nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng
với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”1.
Quan niệm về văn hóa của Hồ Chí Minh ra
đời trong một bối cảnh không gian và thời gian
đặc biệt, khi cả nước đang tập trung vào nhiệm
vụ giải phóng dân tộc. Điều này cho thấy Người
đã sớm nhận thức về vai trò và sứ mệnh của văn
hóa trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Định
nghĩa trên đã bao chứa nhiều nội dung: văn hóa
là sự phát triển tự thân và tất yếu, mang tính
xã hội cao, do nhu cầu tồn tại của con người;
văn hóa là phương thức hoạt động và không
ngừng nâng cao phương thức theo tiến triển xã
hội; trong cái chung về phương thức hoạt động
có cái riêng về công cụ cho sinh hoạt hằng ngày.
Từ các mặt đó, có thể thấy vai trò sáng tạo và
giá trị nhân văn đã trở thành cốt lõi của văn hóa.
_____________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia
Sự thật, Hà Nội, 2011, t.3, tr.458.
12
Văn hóa là sự phát huy và hiện thực hoá các
năng lực bản chất của con người. Con người là
chủ thể sáng tạo của văn hóa, đồng thời văn hóa
là phương thức sinh tồn, là môi trường sống của
con người.
Như vậy, văn hóa theo quan niệm của Chủ
tịch Hồ Chí Minh được hiểu theo nghĩa rộng
nhất. Đó là toàn bộ những giá trị vật chất và
những giá trị tinh thần mà loài người sáng tạo ra
nhằm đáp ứng lẽ sinh tồn, đồng thời cũng là mục
đích sống của loài người. Nguồn gốc và động lực
sâu xa của văn hóa chính là nhu cầu thực tiễn
của con người, thúc đẩy con người sáng tạo, cải
tạo tự nhiên và xã hội, tạo ra những giá trị vật
chất và tinh thần phục vụ tốt hơn nhu cầu của
mình, đây cũng chính là quá trình sáng tạo văn
hóa của con người.
Điều thú vị là khi đối chiếu với một số định
nghĩa khái quát về văn hóa do UNESCO (Tổ chức
Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc)
đưa ra gần nửa thế kỷ sau đó, chúng ta chỉ thấy
khác nhau về cách diễn đạt, còn về cơ bản ý nghĩa
của văn hóa thì không khác biệt với lập luận của
Hồ Chí Minh. Văn hóa trong quan niệm của Người
và UNESCO gặp nhau ở sự tương đồng về cấu trúc
văn hóa, tính đặc trưng riêng biệt của văn hóa, hay
hệ thống những giá trị về vật chất và tinh thần,
cách ứng xử của con người, vai trò của văn hóa
13
đối với tiến trình phát triển của dân tộc và nhân
loại. Theo nghĩa đó, văn hóa chính là hồn cốt của
một quốc gia, dân tộc, làm nên sức sống, diện mạo
và cốt cách của quốc gia, dân tộc đó trong lịch sử.
Đây chính là tầm nhìn, là cống hiến to lớn của
Người vào kho tàng trí tuệ của nhân loại.
2. Vai trò của văn hóa
Kế thừa những truyền thống tốt đẹp của dân
tộc, được ánh sáng khoa học, cách mạng và nhân
văn của chủ nghĩa Mác - Lênin rọi chiếu, Hồ Chí
Minh đã nhận thức được tầm quan trọng của văn
hóa đối với đời sống con người, đối với sự nghiệp
giải phóng xã hội và canh tân đất nước, đối với
việc xây dựng tình đoàn kết và sự hiểu biết, xích
lại gần nhau giữa các dân tộc.
Từ sau Cách mạng Tháng Tám, văn hóa đã
được Người xác định là đời sống tinh thần của xã
hội, là thuộc về kiến trúc thượng tầng. Văn hóa
được đặt ngang hàng với chính trị, kinh tế, xã hội,
tạo thành bốn vấn đề chủ yếu của đời sống xã
hội: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà, có bốn
vấn đề cần chú ý, cũng phải coi là quan trọng
ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa.
Nhưng văn hóa là một kiến trúc thượng tầng”1.
_____________
1. Hồ Chí Minh: Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt
trận, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1984, tr.34.
14
Đồng thời, trong quan hệ của bốn thành tố trên,
Hồ Chí Minh chỉ rõ vai trò quyết định của chính
trị và kinh tế đối với sự phát triển của văn hóa.
Văn hóa thuộc kiến trúc thượng tầng, gắn bó hữu
cơ với cơ sở hạ tầng, vì thế, từ trong bản chất và
tuân thủ quy luật chung, văn hóa ở trong kinh tế
và chính trị, văn hóa không thể đứng ngoài, mà có
nhiệm vụ góp phần thúc đẩy xây dựng và phát
triển kinh tế, phục vụ sự nghiệp cách mạng của
nhân dân, trở thành một động lực to lớn, chủ động
tác động tích cực trở lại đối với kinh tế và chính trị.
Văn hóa của một dân tộc thể hiện trước hết ở trình
độ dân trí, ở tầm cao trí tuệ, sự nhận thức của
người dân về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm
của mình đối với đất nước.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức
rất rõ về vai trò và sức mạnh của văn hóa trong
công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây
dựng đất nước. Năm 1946, tình thế cách mạng
Việt Nam như “ngàn cân treo sợi tóc”, thực dân
Pháp tiếp tục gây hấn, ngày 24/11/1946 Hội
nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất đã được
diễn ra trọng thể tại Nhà hát Lớn (Hà Nội) với
hơn 200 đại biểu là đại diện cho Chính phủ,
Quốc hội và các nhà hoạt động văn hóa trên
toàn quốc tham dự. Trong diễn văn khai mạc
Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định
vai trò, sức mạnh của văn hóa: “Văn hóa phải
15
soi đường cho quốc dân đi”1. Với ý nghĩa đó, văn
hóa có vai trò động lực đối với sự phát triển của
đất nước, trước mắt là chấn hưng nền văn hóa
dân tộc, tạo nền tảng vững chắc để phát triển đất
nước và đem đến những thắng lợi cho cách mạng
nước nhà.
Người nêu nhiệm vụ của văn hóa mới là phải
lấy hạnh phúc của đồng bào, sự nghiệp đấu tranh
của dân tộc làm nội dung phản ánh, đồng thời
phải tiếp thu những kinh nghiệm của văn hóa
xưa và nay để xây dựng nền văn hóa mới Việt
Nam với ba tính chất: dân tộc, khoa học, đại
chúng. Người nêu rõ vị trí, ảnh hưởng của văn
hóa, nghệ thuật trong việc giáo dục thế hệ trẻ,
xây dựng con người Việt Nam yêu nước, độc lập,
tự chủ. Mặc dù chỉ họp trong một ngày trước khi
rời Hà Nội lên Việt Bắc chuẩn bị cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp, nhưng Hội nghị văn
hóa toàn quốc lần thứ nhất đã đặt cơ sở cho việc
xây dựng nền văn hóa mới của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa.
Sau Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất,
một phong trào kháng chiến hóa văn hóa và văn
hóa hóa kháng chiến dưới sự lãnh đạo của Đảng
đã trở thành cuộc cách mạng mở rộng. Đảng ta
xác định vai trò, nhiệm vụ to lớn của văn hóa lúc
_____________
1. Xem Báo Cứu quốc, ngày 25/11/1946.
16
này là phục vụ cho công cuộc kháng chiến. Những
nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ dùng ngòi bút, tài năng
của mình để cho ra đời các tác phẩm tuyên truyền,
thông tin về chiến sự, kể những mẩu chuyện
kháng chiến cho dễ nghe, dễ hiểu. Dưới ngọn cờ
“Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi” mà Chủ
tịch Hồ Chí Minh luôn nêu cao trong suốt cuộc đời
hoạt động cách mạng của mình, toàn Đảng, toàn
quân, toàn dân ta đã cùng nhau chung sức, đồng
lòng xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, để văn hóa thực
sự phát huy vai trò động lực, nguồn lực nội sinh
quan trọng cho sự phát triển của đất nước.
3. Quy luật vận động của văn hóa
Một nền văn hóa lớn mạnh, giàu bản sắc phụ
thuộc vào nhiều yếu tố, đó là sức nghĩ, sức sáng
tạo của các thế hệ người dân quốc gia đó; là quá
trình không ngừng kế thừa, phát huy, lan tỏa giá
trị văn hóa của các thế hệ nối tiếp, đồng thời đó là
quá trình người dân không ngừng sáng tạo, bổ
sung thêm những giá trị mới để bồi đắp, làm giàu
đẹp thêm nền văn hóa dân tộc.
Với cái nhìn duy vật lịch sử, biện chứng của
chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh
cho rằng sự vận động của văn hóa chịu ảnh
hưởng, chi phối, tác động của nhiều lĩnh vực như
kinh tế, chính trị, xã hội. Văn hóa không thể
17
đứng ngoài, thoát ly khỏi nền tảng kinh tế, vật
chất và cơ sở hạ tầng của chế độ. Tuy nhiên văn
hóa là lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm, tinh tế, nó có
đời sống riêng với những quy luật vận động
mang tính đặc thù, nó có tính độc lập tương đối
và tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng, thể chế
kinh tế, chính trị - xã hội.
Xét trong phạm vi của một nền văn hóa cụ
thể, có thể thấy nền văn hóa không đứng im,
không thể tồn tại một cách biệt lập, không thể
khép mình, đóng cửa với thế giới mà văn hóa
luôn luôn vận động, sáng tạo, biến đổi không
ngừng với nhiều giá trị mới được sản sinh cũng
như tự đào thải những cái lạc hậu, chậm tiến để
phát triển, đi lên.
Bản sắc của một nền văn hóa không chỉ là quá
trình sáng tạo, bồi đắp của các thế hệ mà là quá
trình cộng đồng, dân tộc không ngừng học tập, cải
biến, tiếp thu, vận dụng một cách sáng tạo những
giá trị tinh hoa văn hóa nhân loại.
Nhấn mạnh vào quy luật giao lưu - tiếp biến
của nền văn hóa dân tộc, phát biểu tại Hội nghị
văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (năm 1946), Chủ
tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Văn hóa Việt Nam
là ảnh hưởng lẫn nhau của văn hóa Đông phương
và Tây phương chung đúc lại... Tây phương hay
Đông phương có cái gì tốt, ta học lấy để tạo ra một
nền văn hóa Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh nghiệm
18
tốt của văn hóa xưa và văn hóa nay, trau dồi cho
văn hóa Việt Nam thật có tinh thần thuần túy
Việt Nam để hợp với tinh thần dân chủ”1.
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh có 30 năm bôn ba hải ngoại, đặt chân
đến nhiều quốc gia, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa,
nhiều lớp người khác nhau trong xã hội, Người
cũng đã nhanh chóng tiếp thu, vận dụng những cái
hay, tiến bộ, phù hợp của các nền văn hóa, từ tư
tưởng, học thuyết đến lối sống, phong tục tập quán,
cách ăn, cách nói, cách dùng từ, cách viết... vào
điều kiện, hoàn cảnh của nước ta, được diễn đạt,
“Việt hóa” bằng ngôn ngữ giản dị, trong sáng, dễ
thuộc, dễ nhớ, dễ tiếp thu, ứng dụng để làm giàu
đẹp thêm vốn văn hóa truyền thống.
Về đặc trưng, bản chất của nền văn hóa Việt Nam,
theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa Việt Nam là
kết quả của quá trình giao lưu, tương tác, gặp gỡ
của các nền văn hóa Đông phương và Tây phương
với những giá trị nhân văn, tiến bộ được các thế
hệ người dân Việt Nam không ngừng học tập, cải
biến và vận dụng sáng tạo vào điều kiện, hoàn
cảnh của nước ta.
Người căn dặn những người làm công tác văn
hóa, văn nghệ phải ra sức học tập, tiếp thu tinh
_____________
1. Hồ Chí Minh: Về công tác văn hóa văn nghệ,
Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1971, tr.71.
19
hoa văn hóa nhân loại, đồng thời kế thừa, tiếp thu
những cái tốt, cái đẹp, cái tinh túy của văn hóa
xưa và văn hóa nay để tạo ra một nền văn hóa
mới mang đậm tinh thần, cốt cách, bản sắc dân
tộc, phù hợp với tinh thần dân chủ. Đó là nền văn
hóa của nhân dân, do nhân dân sáng tạo và nhân
dân là chủ thể thực hành, thụ hưởng thành quả
của nền văn hóa đó.
Bên cạnh việc ra sức học tập, tiếp thu, vận
dụng sáng tạo tinh hoa văn hóa nhân loại, Người
cũng lưu ý đến một quy luật mang tính phổ biến
trong phát triển, xây dựng nền văn hóa dân tộc,
đó là quy luật kế thừa.
Những sáng tạo về văn hóa gắn liền với dòng
chảy lịch sử của dân tộc. Mỗi giai đoạn, thời kỳ,
các thế hệ người dân Việt Nam lại sáng tạo ra
những giá trị văn hóa độc đáo, phù hợp với cách
nghĩ, cách cảm, tư duy và trình độ của con
người cũng như những đòi hỏi từ thực tiễn cuộc
sống. Những sáng tạo, phát minh đó gắn liền
với lịch sử, ghi dấu những giai đoạn, thời kỳ lịch
sử nhất định, một đi không trở lại, không thể
tái tạo, tái sinh. Vì thế để tạo nền văn hóa
thống nhất trong đa dạng, giàu bản sắc, việc
bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn
hóa truyền thống, văn hóa cổ xưa là trách
nhiệm của hậu thế, bảo đảm tính liền mạch
trong phát triển văn hóa.
20
Đề cập đến vấn đề này, trong Sắc lệnh số 65/SL
ngày 23/11/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm
thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ
tịch Hồ Chí Minh ký đã nói lên tầm quan trọng,
cần thiết về vấn đề bảo tồn cổ tích trên toàn cõi
Việt Nam. Sau này trong tác phẩm Đời sống mới
(1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến
những nguyên tắc của việc xây dựng đời sống
mới, không phải cái gì cũ cũng bỏ hết; cái gì cũ
mà xấu, thì phải bỏ; cái gì cũ mà tốt, thì phải
phát triển thêm. Với cái nhìn biện chứng, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những nguyên tắc,
yêu cầu khi xây dựng đời sống mới cũng như xây
dựng nền văn hóa dân tộc, phải biết trân trọng,
kế thừa thành quả của các thế hệ đi trước, đồng
thời ra sức gìn giữ, phát huy để cái hay, cái đẹp
được nảy nở, lan tỏa rộng rãi trong cộng đồng,
nhân lên những giá trị tốt đẹp.
Thông qua những hành động, việc làm, lời nói
cụ thể, qua cung cách ứng xử hằng ngày của
Người với công việc, với cán bộ, nhân dân đã toát
lên tinh thần nhân văn Hồ Chí Minh, biểu tượng
sinh động của quá trình không ngừng tiếp thu
tinh hoa văn hóa nhân loại cũng như kế thừa, học
tập, phát huy những nét đẹp trong văn hóa truyền
thống để xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam
tiên tiến, giàu bản sắc.
21
Kế thừa tư tưởng, quan điểm của Chủ tịch
Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hóa dân tộc,
Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt quá trình
lãnh đạo nhân dân thực hiện công cuộc kháng
chiến, kiến quốc, xây dựng cuộc đời mới đều nhất
quán quan điểm khi nhấn mạnh: “Văn hóa Việt
Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động
sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ
nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết
quả giao lưu và tiếp thụ tinh hoa của nhiều nền
văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện
mình. Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên
tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm
rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc.
Trong thời đại Hồ Chí Minh, với đường lối
đúng đắn và sáng tạo của Đảng ta, văn hóa Việt
Nam tiếp tục được phát huy, đã góp phần quyết
định vào những thắng lợi to lớn của nhân dân ta
trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và
xây dựng chủ nghĩa xã hội”1.
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quy
luật vận động của văn hóa là những chỉ dẫn quan
trọng trong quá trình xây dựng, phát triển nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc hiện nay.
_____________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập,
Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2015, t.57, tr.293.
22
4. Năm điểm lớn khi xây dựng nền văn hóa
dân tộc
Sau khi nêu quan điểm, ý kiến về ý nghĩa, nội
hàm của văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra
những nhiệm vụ quan trọng để xây d
 





