Trong cơn gió lốc

- 0 / 0
Nguồn: St
Người gửi: Đinh Thị Thu Thủy
Ngày gửi: 22h:21' 06-01-2026
Dung lượng: 852.2 KB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Đinh Thị Thu Thủy
Ngày gửi: 22h:21' 06-01-2026
Dung lượng: 852.2 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
1 người
(Đinh Thị Thu Thủy)
TRONG CƠN GIÓ LỐC
VÀO TRUYỆN Việc chú Mánh ghi nhật ký chẳng còn là điều gì mới
mẻ nữa. Cả tiểu đoàn 3 đã biết chuyện đó. Lúc đầu không thiếu gì
người dè bỉu, cho rằng đó là một việc làm có vẻ như vô công rồi
nghề. Để châm chọc anh, họ còn bịa ra đủ thứ chuyện khôi hài xung
quanh những tập nhật ký của anh. Có lần, cậu Ổn, xạ thủ B40 một
tay láu cá có hạng, không hiểu bằng cách nào đó đã thó được một
trong ba cuốn sổ dày cộp đó và mang ra đọc oang oang cho cả
trung đội nghe. Nhiều đoạn thú ra phết, văn chương nữa là đằng
khác. Nhưng, cũng có đoạn đọc lên làm mọi người cười đến nôn
ruột. Cái đoạn chú Mánh ghi về cuộc chia tay của vợ chồng chú thì
thật chan chứa “chất trữ tình đồng quê”. Đoạn này chú viết toàn
bằng văn vần (thế mới bợm chứ), trong đó có những câu thế này:
Anh đi gìn giữ nước non Còn em ở lại nuôi con tháng ngày Thương
em vất vả lắm thay Áo dăm miếng vá tay dày vết trai. Đáng lý phải
viết chainhưng chú Mánh viết thành trai, sai lỗi chính tả đứt đuôi
con nòng nọc rồi, vậy mà ai nói chú cũng không chịu. Đến khi tiểu
đội trưởng Hưng, dân sư phạm chính ngạch, phải giải thích rằng:
nếu chú viết chai thành traithì câu thơ sẽ bị hiểu chệch sang nghĩa
khác, xúc phạm đến lòng chung thủy của “thím ấy”, chú Mánh mới
“à” một tiếng, vỗ đùi đánh bạch, và than: “Cái sự chữ nghĩa nó cũng
hóc hiểm thật!”. Nhưng nói chung thì chú viết rất có duyên, đọc lên
ai cũng thấy đúng cái giọng khôi hài của chú mỗi khi kể chuyện. Văn
vẻ cũng không đến nỗi quá quắt, trừ một vài đoạn lắm “thì”, lắm
“mà” quá, ai cũng có thể nhận ra ngay. Một hôm, chú lôi ở đâu về
một tờ báo, trỏ vào những cột dài dằng dặc và bảo chúng tôi: -Này,
các cậu đọc mà xem, chuyện chẳng có quái gì cả, ấy vậy mà “nó” viết
hay quá đi mất. Chúng mình thiếu cha gì những chuyện đại loại như
thế này, có khi còn hay hơn nhiều ấy chứ. Ổn bảo: -Vậy chú viết đi.
Chú Mánh đang hăng, buột miệng tuyên bố: -Chưa biết chừng, sẽ có
lúc tớ viết cho các cậu xem. Thế là hôm sau hễ kể chuyện với ai, Ổn
cũng oang oang tuyên bố: “Anh Mánh đang chuẩn bị viết truyện
chiến đấu của chúng mình đấy”. Còn ai là gì cái tính bô lô ba la của
anh chàng Ổn- batoác nữa. Ấy vậy mà cái biệt hiệu “ Văn Sĩ Mánh”
vẫn cứ được tung ra. Lần này chú Mánh nổi nóng thực sự (đâu như
có bớp cho Ổn một cái để trị cái bệnh láu táu); nhưng dù sao cái
biệt hiệu “Văn sĩ Mánh” cũng ra đời mất rồi. Không biết sau này
anh trung đội trưởng Nguyễn Văn Mánh có viết truyện hay không,
nhưng cho đến bây giờ rõ ràng cả đại đội đều mê những cuốn nhật
ký của Mánh. Vô hình chung, nó đã biến thành một cuốn “sử biên
niên” của cả đại đội. Ở đó, Mánh đã ghi hầu như không sót một
ngày nào, một sự kiện nào đã diễn ra trong đơn vị kể từ khi vào
chiến trường Tây Nguyên đến nay. Mỗi khi muốn nhớ lại một kỷ
niệm nào đó, chẳng hạn: hôm nào thì đơn vị vào tới chiến trường;
bị trận bom bi đầu tiên ở đâu; ăn cái tết đầu tiên ở chiến trường có
những thứ gì; mất chốt đường 14 hôm nào; vì sao đại đội trưởng bị
ong đốt cho một trận thừa sống thiếu chết ở làng Gà, v.v… Nghĩa là
đủ mọi chuyện lớn nhỏ đã diễn ra trong đại đội, tiểu đoàn; ai muốn
nhớ lại cho chính xác hoặc khi cần phân xử cho một cuộc tranh cãi,
nhất nhất phải nhờ đến Mánh mở nhật ký ra coi hộ và cho ý kiến…
Chính trị viên đại đội viết tổng kết các chiến dịch, có khi cũng phải
nhờ đến Mánh cung cấp cho một vài chi tiết mà anh quyên không
ghi. Nhưng, cả đại đội không ai ngờ rằng những cuốn nhật ký ấy lại
quan trọng tới cái mức: khi trung đoàn đặt vấn đề viết tiếp “truyền
thống trung đoàn 6” thì, đích thân chủ nhiệm chính trị trung đoàn
(vốn là chính trị viên cũ của tiểu đoàn), phải viết thư tay cho Mánh,
do anh trợ lý tuyên huấn trực tiếp mang xuống, yêu cầu Mánh cho
mượn những cuốn nhật ký đó để làm tài liệu tham khảo. Nhưng
Mánh đã không chịu nhả những cuốn sổ quý báu ấy ra. Anh đã
tuyên bố: “Mấy cha trợ lý là chúa hay quên. Lỡ các vị ấy quên luôn
cho một lèo thì đi đứt. Chả chơi! Nếu anh cần chỗ nào thì mang sổ
xuống tôi đọc cho mà chép!”. Mấy hôm sau, quả nhiên anh trợ lý
tuyên huấn phụ trách việc biên soạn truyền thống trung đoàn phải
mang sổ xuống thật. Sau cái “sự kiện trọng đại” ấy, không ai dám
coi thường việc Mánh ghi nhật ký nữa. Trái lại, khi nào công việc
nhiều quá, Mánh quên thì anh em trong “trung đội gió lốc” của anh
còn nhắc anh phải ghi. Đôi khi, họ còn gợi ý cho anh hôm nay cần
ghi những việc này, việc này… Và dần dần cuốn nhật ký hầu như
không còn chỉ dùng để ghi những tâm tư, ý nghĩ riêng của Mánh
nữa. Khi viết, anh cũng không ghi “Tôi” nữa mà ghi “chúng tôi”.
Điều đó xảy ra từ lúc nào chính anh cũng không biết, nhưng anh
cảm thấy thay đổi như thế là hợp lý. Chiều hôm ấy, mọi công việc
chuẩn bị cho một cuộc hành quân ra trân đã xong. Rỗi rãi, tú lơ khơ
chơi mãi cũng chán, Ổn liền đứng dậy, khoát tay bảo mấy chiến sỹ
trong tiểu đội: -Lại bảo chú Mánh đọc nhật ký nghe chơi, chúng
mày. Tiểu đội trưởng Hưng vội gạt đi: -Đừng! Bọn bay để yên cho
anh ấy ngủ một chút. Mấy hôm vừa rồi anh ấy thức như vạc, đêm
này qua đêm khác đi trinh sát với đại đội trưởng, có được ngủ ngáy
chi đâu. Lúc đó trung đội trưởng Mánh đang nằm trên võng, cuốn
nhật ký còn úp trên bụng. Anh cũng nôn nao không ngủ được. Thấy
anh em xôn xao, anh nhỏm dậy gọi: - Lại đây tụi bay! Tao có ngủ
được đâu. Khi mọi người đã tìm được chỗ ngồi xung quanh võng
của mình, Mánh mới trịnh trọng nâng cuốn nhật ký lên. Đó là một
cuốn sổ khổ vừa, bìa lót ni lông màu xanh, tặng phẩm chiến sỹ thi
đua năm 1974 của Mánh. Anh nhìn mọi người một lượt rồi nói: Mình vừa ghi được một đoạn ngày về hôm nay. Mình đọc thử để các
cậu nghe xem thế nào nhé. Anh xoay người, chọn tư thế ngồi cho
thoải mái, khịt mũi rồi đọc: “Thế là mọi việc chuẩn bị đã xong: đạn
hai cơ số, gạo ních một bao, lương khô chục bánh…Chúng tôi chỉ còn
đợi có lệnh là xuất quân. Chưa bao giờ chúng tôi ra trận mà lại đàng
hoàng, thảnh thơi như hôm nay. Giống như một người chuẩn bị ra
“xướng vật” (1), thấy gân bắp mình cứng rắn hơn, tâm tư mình sảng
khoái hơn và tin một cách chắc chắn rằng thì phen này nhất đinh đối
phương sẽ lấm lưng trắng bụng…”
Ổn thích chí vỗ đùi đánh đét một cái: -Đúng quá! Hệt như mình
nghĩ. Lúa bĩu môi: -Cậu có mà nghĩ! Cậu chẳng bao giờ nghĩ được
cái gì cho ra hồn bao giờ. Chỉ phách lác! Phùng vội nhăn mặt, xua
tay: -Im nào!... Để nghe anh Mánh đọc. Mánh lại hắng giọng, khịt
mũi rồi cái giọng khàn khàn của anh lại vang lên: “…Phen này thì
nhất định đối phương sẽ lấm lưng trắng bụng. Không biết chúng tôi
có chủ quan không, nhưng chưa bao giờ chúng tôi lại tin ở sức mạnh
của mình như bây giờ. Hôm qua, chính ủy sư đoàn xuống thăm
chúng tôi; sau khi kiểm tra xong mọi công việc của đại đội, ông có
ghé vào trung đội của chúng tôi một lúc. Ông hỏi chúng tôi: “các
đồng chí thấy cuộc ra trận này khác những cuộc ra trận trước ở chỗ
nào?”. Chúng tôi mỉm cười nhìn nhau… Thật khó trả lời quá, mặc dù
chúng tôi cảm thấy hết sức rõ ràng “cái khác” ấy. Cái khác ấy hình
như có ngay trong mỗi ý nghĩ, mỗi nhịp đập của trái tim chúng tôi
nhưng nói ra thật khó. Chúng tôi chỉ nhận biết rằng, dân tộc ta đã
chuẩn bị đầy đủ cho cuộc ra trận này. Nói đầy đủ đâu có phải chỉ vì
cái bụng chúng tôi không còn đói, khẩu súng trên tay chúng tôi
không còn lo hết đạn. Nói đến đầy đủ cũng chẳng phải vì thấy thập
thò vài chiếc xe tăng, vài khẩu pháo lớn trong đội hình sư đoàn. Hình
như cái đầy đủ ấy trước hết phải là sự đầy đủ về tinh thần, ý chí, về
lòng tin của mỗi người chiến sỹ ra trận. Sự đầy đủ, còn là sự chín
mọng của thời cơ cách mạng mà cả dân tộc đã chuẩn bị hai chục
năm nay. Thời cơ ấy, khi đã đến cũng giống như khi thằng giặc đã
mắc mưu, phơi ngực ra trước nòng AK và chúng tôi nín thở, bóp cò;
tin chắc rằng súng nổ là nó phải gục, không thể khác được. Với sự
“đầy đủ” ấy chúng tôi bước ra “xướng vật”. Chưa ái dám nghĩ đây là
cuộc đọ sức cuối cùng. Nhưng, chắc chắn đây phải là cuộc ra trận hả
hê nhất”… Mánh dừng lại liếc nhìn các chiến sỹ của mình. Khi thấy
mọi người đều im lặng, say sưa lắng nghe, anh lại cúi xuống đọc
tiếp, giọng anh chợt trỗi lên cao hơn, dạt dào xúc động: “… Sáng
nay tiểu đoàn làm lễ xuất quân. Buổi lễ giản dị nhưng cảm động và
trang nghiêm. Chúng tôi đứng trước những hàng mộ đắp tượng
trưng, tưởng nhớ đến các chiến sỹ của tiểu đoàn đã hi sinh trên vùng
đất Tây Nguyên này. Máu xương sao kể cho xiết, nhưng điều quan
trọng là chúng ta vẫn tồn tại và lớn mạnh. Hỡi những đồng chí thân
yêu! Những thằng Sâm, thằng Tánh, thằng Liên, thằng Soát…Nếu
chúng mày còn cả thì đội ngũ tiểu đoàn phải đứng chật cả khu rừng
này. Nhưng, dù hôm nay vào chiến dịch, tiểu đoàn chỉ còn từng này
tay súng thì sức mạnh vẫn là sức mạnh tất cả. Chúng nó sẽ biết tay
tiểu đoàn mình! “Trung đội gió lốc” lại được nhận cờ. Trong chiến
dịch này, chúng tôi sẽ đưa lá cờ vinh quang đó tới tận đâu, cắm lên
những căn cứ nào của giặc? Điều đó không thể lường hết được.
Nhưng, chúng tôi sẽ chiến đấu xứng đáng với lá cờ ấy. Tôi quay lại
nhìn các chiến sỹ của trung đội mình. Các chiến sỹ cũng ngước nhìn
tôi. Những ánh mắt của họ đã nói với tôi rằng: Anh hãy tin tưởng ở
chúng tôi, như tin chính bản thân mình!”. Trung đội trưởng Mánh
đã đọc hết trang nhật ký ghi ngày hôm đó. Các chiến sỹ của anh vẫn
ngồi yên lặng, suy nghĩ thấm thía. Dường như mỗi người cũng đang
có những lời lẽ riêng để nói với lòng mình. Một trận gió ào qua
rừng. Lá khô trút xuống xào xạc. Những khoảng trời lộ ra sau
những vòm lá, xanh ngăn ngắt. Cảnh vật nhẹ nhõm, lênh thênh.
Mùa khô lên tiếng gọi. Chiều ấy, họ hành quân ra trận.
CHƯƠNG MỘ T
1.
Ra khỏi khu vực đóng quân của sư đoàn bộ, trung đoàn trưởng Thuần, tham mưu trưởng Sự
cùng mấy chiến sỹ thông tin, trinh sát vội vã bước gấp. Trời ngả về chiều mà nắng vẫn chang
chang. Hơi nóng bốc lên hừng hực, không gian lấp lóa, mưng mưng như đang bị dồn nén. Thỉnh
thoảng mới có vài gợn gió uể oải kéo lê qua những cánh rừng khộp đã trụi lá, khẳng khiu, hiu
hắt. Đang giữa mùa khô, cây cỏ như đã bị vắt hết nhựa sống; tất cả đều xào xạc, úa vàng, chỉ
còn những vạt rừng lim là vẫn xanh ngăn ngắt. Họ đi qua những trảng cỏ rộng mênh mông đã
ngả màu rơm. Cỏ khô dẹp xuống, tưng tức dưới bàn chân. Trên những trảng cỏ ấy, thỉnh thoảng
còn sót lại một vài hố bom hoặc hố voi đằm còn xâm xấp nước, la liệt những vết chân nai, chân
hoẵng. Đêm đêm, trên những trảng cỏ này rậm rịch bước chân thú rừng, chú nào cũng hý hửng
tưởng mình láu cá nhất, ai dè tới đây chạm mặt “cả làng”, vô phúc còn sa vào nanh vuốt của
những vị láng giềng biết ăn thịt mình hoặc nhận một viên đạn của những anh thợ săn lõi đời
nữa. Đi được chừng hơn một giờ đồng hồ, trung đoàn trưởng Thuần phải cho đoàn của mình
dừng lại để tránh một đám cháy rừng.
Tiếng lửa réo ù ù như tiếng vó ngựa của một đạo quân hung dữ. Khói cuộn lên, cồn lên từng
đụn như những đám mây vần vũ khi trời chuyển động. Tàn lá bay đen trời. Không gian bị nung
lên, nóng hừng hực. Trời đất tối sầm lại. Gió thổi gằn từng đợt. Đàn “ngựa lửa” chồm lên, nhảy
ùa vào những cụm le khô, vừa cào cấu vừa réo lên ù ù, ra chiều thỏa thuê, khoái trá lắm. Khi
gặp những bãi cỏ khô, ngọn lửa lại rạp xuống, thè lè những chiếc lưỡi dài đỏ đọc ra mà liếm lèo
lèo.
Đám cháy rừng không hiểu bắt đầu từ đâu và kéo dài tới tận đâu. Chỉ thấy trước mặt sừng sững
dựng lên một bức tường lửa và khói. Những chú nai, hoẵng ngủ ngày trong những vạt cây xanh
giữa rừng khộp gặp nạn la lên oang oác, rồi cắm đầu chạy, co cẳng phóng rào rào. Khi những
đám cháy rừng thế này đi qua, người ta thường gặp không ít những chú nai, hoẵng, chồn, cheo
không chạy thoát khỏi cơn hỏa tai, bị thiêu chín nứt nở, mỡ vẫn còn nhỏ xèo xèo xuống tàn tro.
Con đường mòn mà trung đoàn trưởng Thuần và các đồng chí của mình đang đi xế về mé đầu
gió nên phải đợi cho đám cháy đi qua. Họ tạm nghỉ bên một con suối cạn. Lòng suối rộng đến
hơn chục mét, ngổn ngang đá xanh, đá trắng. Về mùa mưa chắc cũng phải khó khăn lắm vượt
qua nổi con suối này; vậy mà bây giờ nó khô khốc không một giọt nước. Thấy có tiếng động lạo
rạo trên đá, đàn dế con từ trong khe ùa ra, nhảy tưng tưng nom đến vui mắt.
Tham mưu trưởng Sự mồ hôi nhễ nhại, mặt đỏ rân, vừa đặt đít xuống anh đã mở bi đông nước,
tu ừngực. Nhìn Sự uống nước, trung đoàn trưởng mỉm cười, hỏi:
- Hạ nhiệt chưa, Sự hè?
Sự lắc đầu ngao ngán:
- Phát ớn mùa khô ở cái xứ này rồi
- Là tớ muốn hỏi cậu đã vơi cái bị ức đi chưa?
Sự chậc lưỡi:
- Tôi thấy bực mình thì phát, phát xong thì thôi, có chiđâu? Nhưng mà kể cũng sầu thật, chưa
chiến dịch nào trung đoàn mình được phân công làm ăn cho ra tấm ra miếng. Đấy, rồi anh xem.
Phục kích chiến dịch! Nghe thì hay ho đấy, nhưng rồi lại ngồi trơ mắt ếch ra nhìn họ làm ăn cho
coi.
Sự vẫn chưa hết thắc mắc về nhiệm vụ phục kích chiến dịch mà sư đoàn giao cho trung đoàn 6.
Thực tình mà nói, trong thâm tâm, Thuần cũng hơi tự ái khi trung đoàn mình chỉ được nhận
nhiệm vụ thứ yếu trong đội hình tác chiến của sư đoàn ở giai đoạn đoạn đầu của chiến dịch.
Nếu trungđoàn ông cũng được giao nhiệm vụ đánh chiếm một chi khu quân sự như trung đoàn
4 thi vẫn hơn. Nhưng ông tỉnh táo hơn Sự để hiểu rằng, Đảngủy và Bộ tư lệnh sư đoàn sử dụng
lực lượng như thế là hợp lý, hợp với sở trường của các đơn vị. Công bằng mà nói, trung đoàn 4
giỏi đánh địch trong công sự vững chắc hơn trung đoàn ông. Giao cho nó cụp thật nhanh, gọn
cái Thuần Mẫn để gây khí thế và tạo thời cơ làm ăn chung cho cả sư đoàn là hợp lý. Đây còn là
một trận được coi là mở màn cho toàn chiến dịch, nếu đánh cù cưa, trầy trớt thì rất phiền, ảnh
hưởng cả thế trận chung của toàn mặt trận. Theo dự đoán của Bộ tư lệnh chiến dịch, sau khi ta
tiêu diệt chi khu Thuần Mẫn, đẩy mạnh hoạt độngở phía nam; nhất là khi ta tiến công mục tiêu
A (Buôn Ma Thuật), bộ tư lệnh quânđoàn 2 ngụy sẽ cuống cà kê và chúng có thể phải điều lực
lượngở phía bắc cao nguyên xuốngứng cứu. Cái khoảng “có thể” đó chính là thời cơ làm ăn của
trung đoàn ông. Vì vậy, cùng với vài đơn vị hỏa lực tăng cường, trung đoàn ông phải triển khai
một thế trận phục kích lớn trên đường 14, cắt đứt con đường này, thực hiện ý đồ của Bộ tư lệnh
chiến dịch. Đó chính là nhiệm vụ chia cắt chiến dịch mà không một người cán bộ chỉ huy nào
được coi thương.
Nhưng vốn dĩ Sự là người nôn nóng, hay tự ái vặt, chỉ nghe mấy tiếng “nhiệm vụ thứ yếu” là cậu
ấy không chịu nổi. Theo Sự, hễ chiến dịch mở màn là phải nhảy bổ vào những “điểm nóng
nhất” mà nện tơi bời thì mới hả hê. Vậy nên, trong buổi giao nhiệm vụ trên sa bàn. Sự đã “nói
dỗi” với tư lệnh trưởng Thanh Đồng:
- Vâng, trung đoàn 6 “cà là mèng” xin chạy đèn cù để các bậc đàn anh là ăn!
Vốn là người chặt chẽ nghiêm khắc, nghe Sự nói vậy, tư lệnh trưởng chỉnh luôn cho một bài:
-Đồng chí Sự! Đây không phải chuyện xôi thịt mà phân ngôi phân thứ. Đã là người chỉ huy thì
không được coi thường bất cứ nhiệm vụ gì.
Đã thế Sự còn dám đai thêm:
-Tôi đâu có dám coi thường nhiệm vụ. Nhưng… trung đoàn tôi thì kém hẹm gì mà không hất
phăng được cái thằng Thuần Mẫn!
Biết tính Sự, trung đoàn trưởng vội phanh lại:
- Thôi mà Sự! Nhiệm vụ là nhiệm vụ. Tớ hỏi cậu, nếu cậu phân công tác chiến cho các tiểu đoàn
mà thằng cha nào đó cũng mè nheo nhận nhiệm vụ chủ yếu cả thì cậu tính sao?
Đó là hôm giao nhiệ m vụ giai đoạn một của chiến dịch. Còn hôm nay Sự nổi nóng lại vì
chuyện khác. Thuần và Sự vừa làm việc với tham mưu trưởng sư đoàn xong, vừa ló mặt ra khỏi
phòng tác chiến thì gặp ngay trung đoàn trưởng trung đoàn 4 Đặng Ngọc San, một cán bộ trung
đoàn trẻ. Biết Sự đang cay cú, San vừa cười vừa nói móc một câu:
- Thế nào anh Sinh Sự? (tên Sự là Nguyễn Đình Sự, nhưng vì anh có tính hay “sinh sự” không
chiến dịch nào anh không hò hét, cãi vã ở ban tác chiến vì hợp đồng chật mấu hayở phòng
quân nhu, quân giới vì đạn, gạo, nên các trợ lý trên sư đoàn đặt luôn cho anh cái tên ấy)– Triển
khai nhiệm vụ đến đâu rồi? Cứ yên trí, thế nào anh em cũng để sổng cho vài tiểu đội mà đón
lõng.
Gan ruột Sự đang tức anh ách như một quả bóng bơm căng, bị chích một mũi vậy, giận quá anh
“xì” luôn một hơi:
-Này đừng có cậy thế chủ công mà khinh anh em nhé. Ra cái điều ta đây! Chưa biết mỉu nào
hơn mỉu nào đâu mà đã rộn.
San đứng chết lặng, tưng hửng:
-Kìa, đùa một tí cho vui thôi mà. Ông này buồn cười nhỉ, có ai dám khinh các anh đâu! Sự vẫn
to tiếng:
-Đây không thíc đùa kiểu ấy.
San nháy mắt, cười;
- Thế… đùa kiểu này vậy. Này, con Xuân ở viện 4 nó gửi lời thăm cậu đấy.
Sự ngay mặt, cười ngô nghê rồi dang thẳng cánh thụi cho San một quả:
- Ba láp.
- Ba láp cái gì? – San tiếp tục tiến công– Thế cái bọc võng của cậu chẳng tay nó khâu thì ai? Anh
Thuần này coi chừng cái thằng này nhé. Nó bợm lắm đấy!
Bị “điểm đúng huyệt”, Sự đành phải xuống nước. Anh chàng quay sang tán chuyện tào lao và
cười hơ hớ. Sốt ruột, trung đoàn trưởng Thuần phải giục, anh ta mới chịu dứt ra. Sau đó lại còn
vừa đi vừa huýt sáo nữa mới tứccười.
Bây giờ cũng vậy, hình như chàng ta lại nghĩ ngợi điều gì xa xôi lắm. Khuôn mặt vuông vức rám
nắng im lìm. Đôi mắt to đen mở ra, nhìn xa hút. Thỉnh thoảng, chừng nghĩ tới điều gì vui lắm,
anh ta tủm tỉm cười ruồi, hai cánh mũi to phập phồng, đôi lông mày đen rậm động đậy. Trung
đoàn trưởng Thuần thích thú quan sát Sự một lát rồi hỏi:
- Nè!... có thực cậu yêu cái Xuânở viện 4 không?
Sự trợn mắt:
-Anh mà cũng nghe tụi nó tán láo à?
Trung đoàn trưởng cười mủm mỉm:
-Được đấy, tớ ủng hộ. Nó với tớ là chỗ đồng hương. Cũng dân Phú Yên cả mà. Tớ nói vô một câu
là ổn hết.
Thành, công vụ của trung đoàn trưởng, nghe thấy vậy cũng chen vào:
- Phải đấy anh Sự ạ. Em tiết lộ bí mật nhé. Hồi thủ trưởng điều trị ở đó, cô Xuân mến thủ
trưởng lắm. Một câu “chú Thuần”, hai câu “chú Thuần”. Nghe đâu còn muốn nhận thủ trưởng
Thuần làm ba nuôi cơ đấy. Anh nhận làm con rể thủ trưởng luôn đi cho rồi!
Trung đoàn trưởng Thuần bật cười vang. Sự đỏ rân mặt, nhảy vội tới, hai tay cứng như sắt của
anh nắm chặt lấy hai vai Thành mà lắc liên hồi:
- Nhóc con! Tầm bậy tầm bạ. Chừa không? Chừa thì tao buông. Nếu không tao bóp cổ! May thay
cho Thành, vừa lúc đó có một con hoẵng từ trong đám cháy rừng lao vụt ra, vừa nhảy cà nhắc
cà nhót vừa la lên oang oác. Mấy cậu thông tin, trinh sáthè nhau đuổi. Sự vội buông vai Thành
vớ lấy hai hòn đá hét inh lên:
- Nó bị thương rồi. Đuổi… bắt sống!...
Nhưng dù bị thương, con hoẵng vẫn chạy nhanh hơn người. Loáng một cái nó đã mất hút.
Những người đuổi theo nó luồn qua cả những đám rừng vừa cháy qua, than tro bám vào quần
áo, mặt mũi, nom như một đội chữa cháy vừa đi làm nhiệm vụ về. Sự vừa thở dài vừa lắc đầu:
- Nó chạy cà nhắc mà nhắc mà nhanh quá!
Trung đoàn trưởng nói khích:
- Bọn mình cứ tưởng phải khiêng theo cả hoẵng thì mệt quá lắm!
Đám cháy nương theo chiều gió tạt qua hướng khác. Phía trước mặt, nơi Thuần và các đồng chí
của mình sắp sửa đi tới hiện ra một vùng đen nhẻm. Những cây con, dây leo, cỏ đều bị đốt trụi,
chỉ còn trơ ra những thân khộp đen xì, đứng im lìm như đã chết. Vỏ cây cũng bị cháy sém, đang
còn bốc khói nghi ngút. Cả dải đồi mới đó còn vàng rộm màu lá khô mà bây giờ đã đen kịt, tối
thẫm như một vùng mỏ than lộ thiên. Tựa hồ như có một bàn tay thần kỳ vừa nhấc bổng cả
những dải đồi ấy lên, nhúng vào một đại dương màu mực tàu rồi lại đặt nó về vị trí cũ vậy.
Thuần cho nghỉ thêm ít phút nữa để các chàng đuổi hoẵng thở một chút cho lại sức rồi tiếp tục
ra lệnh hành quân. Tối nay ông phải có mặt ở trung đoàn để báo cáo trước Đảngủy nhiệm vụ cụ
thể của Đảngủy và Bộ tư lệnh sư đoàn giao cho trung đoàn. Còn bao nhiêu việc phải triển khai
trước khi chiến dịch bắt đầu mở màn. Ông cảm thấy những ngày này, thời gian như nén lại,
không gian thì như căng giãn ra. Cả núi rừng Tây Nguyên cũng đang dồn nén, âmỉ, tích tụ,
chuẩn bị cho một sự bùng nổ dữ dội chưa từng xảy ra trên vùng cao nguyên đất đỏ này.
2
Dự buổi họp giao ban buổi sáng xong trung đoàn trưởng Thuần kéo chính ủy Tâm ra ngồi trên
chiếc ghế gỗ, do đồng chí công vụ làm dưới gốc cây Trếch già, cành lá sum sê.
Ngồi đây một chút anh!Tôi… có chuyện này…
Thuần nói với chínhủy như vậy rồi rút thuốc lá ra mời ông. Hai người đã châm thuốc hút được
đến nửa điếu rồi nhưng Thuần vẫn chưa nói gì. Chính ủy đã nhận ra những nét khác thường
trên gương mặt trung đoàn trưởng. Đôi mắt ông long lanh ướt, gương mặt ông thoắt như hồng
lên, thoắt lại như tái đi. Điếu thuốc lá trên môi ông lập bập. Sống gần bên Thuần lâu năm, chính
ủy hiểu rằng Thuần đang xúc động, đang có một điều gì muốn nói ra nhưng không phải dễ gì
mà nói ra ngay được. Biết vậy nên ông yên lặng chờ đợi, vờ như không hề nhận ra những nét
xúc động đó trên gương mặt người bạn chiến đấu của mình.
- Anh Tâmạ!... phì… có một điều này… phà… lạ lắm!...
Chính ủy ngước nhìn lên, gợi chuyện:
- Có chuyện gì vậy, anh Thuần?
-Phà… có một điều này… mà sao nhỉ! – trung đoàn trưởng đưa tay ra đập đập lên trán mìnhQuái nhỉ! Tối nói anh đừng cười, bỗng tự nhiên tôi nghĩ rằng… Anh còn nhớ cái thư anh Năm
Tự gởi cho tôi hồi tháng hai năm bảy ba không?
Chính ủy à một tiếng rồi mỉm cười:
- Nhớ, tôi nhớ chứ! Quên làm sao được.
Chính ủy làm sao quên được buổi chiều hômấy. Cái buổi chiều mà người bạn chiến đấu của
ông, đã ngoài bốn mươi tuổi, dày dạn phong trần đến vậy mà bỗng khóc nức nở như một đứa
trẻ. Anh mếu máo run rẩy đưa cho chính ủy một phong thư: “Đọc đi…anh, tha lỗi cho tôi”.
Chính ủy đọc bức thư và hiểu ra tất cả. Đó là những dòng tin tức đầu tiên về quê hương và gia
đình mà sau gần hai mươi năm trời xa cách, mong nhớ, lo âu, khắc khoải, nay Thuần mới nhận
được. Bức thư ngắn ngủi ấy của người bạn đồng hương đã mang đến cho anh nỗi đau thương
mất mát lẫn niềm vui, hạnh phúc mà gần hai chục năm nay anh cứ ngỡ rằng mình không hề có.
Bên cạnh những tin tức về bạn bè, đồng chí, người thân bị giặc bắt, giặc giết là những dòng tin
làm sáng rực trong lòng Thuần một niềm vui hạnh phúc. Vợ anh vẫn còn, vẫn chờ đợi anh, vẫn
hoạt động cách mạng. Và đặc biệt anh được biết thêm rằng mình đã có một đứa con. Đó là điều
kì diệu nhất má suốt gần hai chục năm xa cách, anh không bao giờ dám nghĩ đến. Lấy vợ được
bảy ngày thì anh thoát ly đi hoạt động. Một năm sau hiệp định Giơ-nevơ được ký kết. Trước khi
ra Quy Nhơn để xuống tàu đi tập kết, anh chỉ được ghé qua nhà có một ngày một đêm. Anh đâu
biết từ cái đêm chia ly đẫm nước mắt ấy, anh đã để lại quê nhà một phần máu thịt của mình.
Đứa con của anh đã ra đời trong những ngày đen tối nhất của miền nam. Ở tỉnh Phú Yên quê
anh, đó là những ngày bọn tay sai Ngô Đình Diệm điên cuồng mở chiến dịch Hải Âu, một chiến
dịch tố Cộng đẫm máu. Đứa con của anh đã ra đời trong nhữngngày máu và nước mắt ấy. Nó đã
sống bằng dòng sữa cay đắng của mẹ, sống trong sự đùm bọc yêu thương của bà con làng xóm.
Nó đã lớn lên, đã trưởng thành cùng phong trào cách mạng của quê hương. Và, cũng như tất cả
những người con t
VÀO TRUYỆN Việc chú Mánh ghi nhật ký chẳng còn là điều gì mới
mẻ nữa. Cả tiểu đoàn 3 đã biết chuyện đó. Lúc đầu không thiếu gì
người dè bỉu, cho rằng đó là một việc làm có vẻ như vô công rồi
nghề. Để châm chọc anh, họ còn bịa ra đủ thứ chuyện khôi hài xung
quanh những tập nhật ký của anh. Có lần, cậu Ổn, xạ thủ B40 một
tay láu cá có hạng, không hiểu bằng cách nào đó đã thó được một
trong ba cuốn sổ dày cộp đó và mang ra đọc oang oang cho cả
trung đội nghe. Nhiều đoạn thú ra phết, văn chương nữa là đằng
khác. Nhưng, cũng có đoạn đọc lên làm mọi người cười đến nôn
ruột. Cái đoạn chú Mánh ghi về cuộc chia tay của vợ chồng chú thì
thật chan chứa “chất trữ tình đồng quê”. Đoạn này chú viết toàn
bằng văn vần (thế mới bợm chứ), trong đó có những câu thế này:
Anh đi gìn giữ nước non Còn em ở lại nuôi con tháng ngày Thương
em vất vả lắm thay Áo dăm miếng vá tay dày vết trai. Đáng lý phải
viết chainhưng chú Mánh viết thành trai, sai lỗi chính tả đứt đuôi
con nòng nọc rồi, vậy mà ai nói chú cũng không chịu. Đến khi tiểu
đội trưởng Hưng, dân sư phạm chính ngạch, phải giải thích rằng:
nếu chú viết chai thành traithì câu thơ sẽ bị hiểu chệch sang nghĩa
khác, xúc phạm đến lòng chung thủy của “thím ấy”, chú Mánh mới
“à” một tiếng, vỗ đùi đánh bạch, và than: “Cái sự chữ nghĩa nó cũng
hóc hiểm thật!”. Nhưng nói chung thì chú viết rất có duyên, đọc lên
ai cũng thấy đúng cái giọng khôi hài của chú mỗi khi kể chuyện. Văn
vẻ cũng không đến nỗi quá quắt, trừ một vài đoạn lắm “thì”, lắm
“mà” quá, ai cũng có thể nhận ra ngay. Một hôm, chú lôi ở đâu về
một tờ báo, trỏ vào những cột dài dằng dặc và bảo chúng tôi: -Này,
các cậu đọc mà xem, chuyện chẳng có quái gì cả, ấy vậy mà “nó” viết
hay quá đi mất. Chúng mình thiếu cha gì những chuyện đại loại như
thế này, có khi còn hay hơn nhiều ấy chứ. Ổn bảo: -Vậy chú viết đi.
Chú Mánh đang hăng, buột miệng tuyên bố: -Chưa biết chừng, sẽ có
lúc tớ viết cho các cậu xem. Thế là hôm sau hễ kể chuyện với ai, Ổn
cũng oang oang tuyên bố: “Anh Mánh đang chuẩn bị viết truyện
chiến đấu của chúng mình đấy”. Còn ai là gì cái tính bô lô ba la của
anh chàng Ổn- batoác nữa. Ấy vậy mà cái biệt hiệu “ Văn Sĩ Mánh”
vẫn cứ được tung ra. Lần này chú Mánh nổi nóng thực sự (đâu như
có bớp cho Ổn một cái để trị cái bệnh láu táu); nhưng dù sao cái
biệt hiệu “Văn sĩ Mánh” cũng ra đời mất rồi. Không biết sau này
anh trung đội trưởng Nguyễn Văn Mánh có viết truyện hay không,
nhưng cho đến bây giờ rõ ràng cả đại đội đều mê những cuốn nhật
ký của Mánh. Vô hình chung, nó đã biến thành một cuốn “sử biên
niên” của cả đại đội. Ở đó, Mánh đã ghi hầu như không sót một
ngày nào, một sự kiện nào đã diễn ra trong đơn vị kể từ khi vào
chiến trường Tây Nguyên đến nay. Mỗi khi muốn nhớ lại một kỷ
niệm nào đó, chẳng hạn: hôm nào thì đơn vị vào tới chiến trường;
bị trận bom bi đầu tiên ở đâu; ăn cái tết đầu tiên ở chiến trường có
những thứ gì; mất chốt đường 14 hôm nào; vì sao đại đội trưởng bị
ong đốt cho một trận thừa sống thiếu chết ở làng Gà, v.v… Nghĩa là
đủ mọi chuyện lớn nhỏ đã diễn ra trong đại đội, tiểu đoàn; ai muốn
nhớ lại cho chính xác hoặc khi cần phân xử cho một cuộc tranh cãi,
nhất nhất phải nhờ đến Mánh mở nhật ký ra coi hộ và cho ý kiến…
Chính trị viên đại đội viết tổng kết các chiến dịch, có khi cũng phải
nhờ đến Mánh cung cấp cho một vài chi tiết mà anh quyên không
ghi. Nhưng, cả đại đội không ai ngờ rằng những cuốn nhật ký ấy lại
quan trọng tới cái mức: khi trung đoàn đặt vấn đề viết tiếp “truyền
thống trung đoàn 6” thì, đích thân chủ nhiệm chính trị trung đoàn
(vốn là chính trị viên cũ của tiểu đoàn), phải viết thư tay cho Mánh,
do anh trợ lý tuyên huấn trực tiếp mang xuống, yêu cầu Mánh cho
mượn những cuốn nhật ký đó để làm tài liệu tham khảo. Nhưng
Mánh đã không chịu nhả những cuốn sổ quý báu ấy ra. Anh đã
tuyên bố: “Mấy cha trợ lý là chúa hay quên. Lỡ các vị ấy quên luôn
cho một lèo thì đi đứt. Chả chơi! Nếu anh cần chỗ nào thì mang sổ
xuống tôi đọc cho mà chép!”. Mấy hôm sau, quả nhiên anh trợ lý
tuyên huấn phụ trách việc biên soạn truyền thống trung đoàn phải
mang sổ xuống thật. Sau cái “sự kiện trọng đại” ấy, không ai dám
coi thường việc Mánh ghi nhật ký nữa. Trái lại, khi nào công việc
nhiều quá, Mánh quên thì anh em trong “trung đội gió lốc” của anh
còn nhắc anh phải ghi. Đôi khi, họ còn gợi ý cho anh hôm nay cần
ghi những việc này, việc này… Và dần dần cuốn nhật ký hầu như
không còn chỉ dùng để ghi những tâm tư, ý nghĩ riêng của Mánh
nữa. Khi viết, anh cũng không ghi “Tôi” nữa mà ghi “chúng tôi”.
Điều đó xảy ra từ lúc nào chính anh cũng không biết, nhưng anh
cảm thấy thay đổi như thế là hợp lý. Chiều hôm ấy, mọi công việc
chuẩn bị cho một cuộc hành quân ra trân đã xong. Rỗi rãi, tú lơ khơ
chơi mãi cũng chán, Ổn liền đứng dậy, khoát tay bảo mấy chiến sỹ
trong tiểu đội: -Lại bảo chú Mánh đọc nhật ký nghe chơi, chúng
mày. Tiểu đội trưởng Hưng vội gạt đi: -Đừng! Bọn bay để yên cho
anh ấy ngủ một chút. Mấy hôm vừa rồi anh ấy thức như vạc, đêm
này qua đêm khác đi trinh sát với đại đội trưởng, có được ngủ ngáy
chi đâu. Lúc đó trung đội trưởng Mánh đang nằm trên võng, cuốn
nhật ký còn úp trên bụng. Anh cũng nôn nao không ngủ được. Thấy
anh em xôn xao, anh nhỏm dậy gọi: - Lại đây tụi bay! Tao có ngủ
được đâu. Khi mọi người đã tìm được chỗ ngồi xung quanh võng
của mình, Mánh mới trịnh trọng nâng cuốn nhật ký lên. Đó là một
cuốn sổ khổ vừa, bìa lót ni lông màu xanh, tặng phẩm chiến sỹ thi
đua năm 1974 của Mánh. Anh nhìn mọi người một lượt rồi nói: Mình vừa ghi được một đoạn ngày về hôm nay. Mình đọc thử để các
cậu nghe xem thế nào nhé. Anh xoay người, chọn tư thế ngồi cho
thoải mái, khịt mũi rồi đọc: “Thế là mọi việc chuẩn bị đã xong: đạn
hai cơ số, gạo ních một bao, lương khô chục bánh…Chúng tôi chỉ còn
đợi có lệnh là xuất quân. Chưa bao giờ chúng tôi ra trận mà lại đàng
hoàng, thảnh thơi như hôm nay. Giống như một người chuẩn bị ra
“xướng vật” (1), thấy gân bắp mình cứng rắn hơn, tâm tư mình sảng
khoái hơn và tin một cách chắc chắn rằng thì phen này nhất đinh đối
phương sẽ lấm lưng trắng bụng…”
Ổn thích chí vỗ đùi đánh đét một cái: -Đúng quá! Hệt như mình
nghĩ. Lúa bĩu môi: -Cậu có mà nghĩ! Cậu chẳng bao giờ nghĩ được
cái gì cho ra hồn bao giờ. Chỉ phách lác! Phùng vội nhăn mặt, xua
tay: -Im nào!... Để nghe anh Mánh đọc. Mánh lại hắng giọng, khịt
mũi rồi cái giọng khàn khàn của anh lại vang lên: “…Phen này thì
nhất định đối phương sẽ lấm lưng trắng bụng. Không biết chúng tôi
có chủ quan không, nhưng chưa bao giờ chúng tôi lại tin ở sức mạnh
của mình như bây giờ. Hôm qua, chính ủy sư đoàn xuống thăm
chúng tôi; sau khi kiểm tra xong mọi công việc của đại đội, ông có
ghé vào trung đội của chúng tôi một lúc. Ông hỏi chúng tôi: “các
đồng chí thấy cuộc ra trận này khác những cuộc ra trận trước ở chỗ
nào?”. Chúng tôi mỉm cười nhìn nhau… Thật khó trả lời quá, mặc dù
chúng tôi cảm thấy hết sức rõ ràng “cái khác” ấy. Cái khác ấy hình
như có ngay trong mỗi ý nghĩ, mỗi nhịp đập của trái tim chúng tôi
nhưng nói ra thật khó. Chúng tôi chỉ nhận biết rằng, dân tộc ta đã
chuẩn bị đầy đủ cho cuộc ra trận này. Nói đầy đủ đâu có phải chỉ vì
cái bụng chúng tôi không còn đói, khẩu súng trên tay chúng tôi
không còn lo hết đạn. Nói đến đầy đủ cũng chẳng phải vì thấy thập
thò vài chiếc xe tăng, vài khẩu pháo lớn trong đội hình sư đoàn. Hình
như cái đầy đủ ấy trước hết phải là sự đầy đủ về tinh thần, ý chí, về
lòng tin của mỗi người chiến sỹ ra trận. Sự đầy đủ, còn là sự chín
mọng của thời cơ cách mạng mà cả dân tộc đã chuẩn bị hai chục
năm nay. Thời cơ ấy, khi đã đến cũng giống như khi thằng giặc đã
mắc mưu, phơi ngực ra trước nòng AK và chúng tôi nín thở, bóp cò;
tin chắc rằng súng nổ là nó phải gục, không thể khác được. Với sự
“đầy đủ” ấy chúng tôi bước ra “xướng vật”. Chưa ái dám nghĩ đây là
cuộc đọ sức cuối cùng. Nhưng, chắc chắn đây phải là cuộc ra trận hả
hê nhất”… Mánh dừng lại liếc nhìn các chiến sỹ của mình. Khi thấy
mọi người đều im lặng, say sưa lắng nghe, anh lại cúi xuống đọc
tiếp, giọng anh chợt trỗi lên cao hơn, dạt dào xúc động: “… Sáng
nay tiểu đoàn làm lễ xuất quân. Buổi lễ giản dị nhưng cảm động và
trang nghiêm. Chúng tôi đứng trước những hàng mộ đắp tượng
trưng, tưởng nhớ đến các chiến sỹ của tiểu đoàn đã hi sinh trên vùng
đất Tây Nguyên này. Máu xương sao kể cho xiết, nhưng điều quan
trọng là chúng ta vẫn tồn tại và lớn mạnh. Hỡi những đồng chí thân
yêu! Những thằng Sâm, thằng Tánh, thằng Liên, thằng Soát…Nếu
chúng mày còn cả thì đội ngũ tiểu đoàn phải đứng chật cả khu rừng
này. Nhưng, dù hôm nay vào chiến dịch, tiểu đoàn chỉ còn từng này
tay súng thì sức mạnh vẫn là sức mạnh tất cả. Chúng nó sẽ biết tay
tiểu đoàn mình! “Trung đội gió lốc” lại được nhận cờ. Trong chiến
dịch này, chúng tôi sẽ đưa lá cờ vinh quang đó tới tận đâu, cắm lên
những căn cứ nào của giặc? Điều đó không thể lường hết được.
Nhưng, chúng tôi sẽ chiến đấu xứng đáng với lá cờ ấy. Tôi quay lại
nhìn các chiến sỹ của trung đội mình. Các chiến sỹ cũng ngước nhìn
tôi. Những ánh mắt của họ đã nói với tôi rằng: Anh hãy tin tưởng ở
chúng tôi, như tin chính bản thân mình!”. Trung đội trưởng Mánh
đã đọc hết trang nhật ký ghi ngày hôm đó. Các chiến sỹ của anh vẫn
ngồi yên lặng, suy nghĩ thấm thía. Dường như mỗi người cũng đang
có những lời lẽ riêng để nói với lòng mình. Một trận gió ào qua
rừng. Lá khô trút xuống xào xạc. Những khoảng trời lộ ra sau
những vòm lá, xanh ngăn ngắt. Cảnh vật nhẹ nhõm, lênh thênh.
Mùa khô lên tiếng gọi. Chiều ấy, họ hành quân ra trận.
CHƯƠNG MỘ T
1.
Ra khỏi khu vực đóng quân của sư đoàn bộ, trung đoàn trưởng Thuần, tham mưu trưởng Sự
cùng mấy chiến sỹ thông tin, trinh sát vội vã bước gấp. Trời ngả về chiều mà nắng vẫn chang
chang. Hơi nóng bốc lên hừng hực, không gian lấp lóa, mưng mưng như đang bị dồn nén. Thỉnh
thoảng mới có vài gợn gió uể oải kéo lê qua những cánh rừng khộp đã trụi lá, khẳng khiu, hiu
hắt. Đang giữa mùa khô, cây cỏ như đã bị vắt hết nhựa sống; tất cả đều xào xạc, úa vàng, chỉ
còn những vạt rừng lim là vẫn xanh ngăn ngắt. Họ đi qua những trảng cỏ rộng mênh mông đã
ngả màu rơm. Cỏ khô dẹp xuống, tưng tức dưới bàn chân. Trên những trảng cỏ ấy, thỉnh thoảng
còn sót lại một vài hố bom hoặc hố voi đằm còn xâm xấp nước, la liệt những vết chân nai, chân
hoẵng. Đêm đêm, trên những trảng cỏ này rậm rịch bước chân thú rừng, chú nào cũng hý hửng
tưởng mình láu cá nhất, ai dè tới đây chạm mặt “cả làng”, vô phúc còn sa vào nanh vuốt của
những vị láng giềng biết ăn thịt mình hoặc nhận một viên đạn của những anh thợ săn lõi đời
nữa. Đi được chừng hơn một giờ đồng hồ, trung đoàn trưởng Thuần phải cho đoàn của mình
dừng lại để tránh một đám cháy rừng.
Tiếng lửa réo ù ù như tiếng vó ngựa của một đạo quân hung dữ. Khói cuộn lên, cồn lên từng
đụn như những đám mây vần vũ khi trời chuyển động. Tàn lá bay đen trời. Không gian bị nung
lên, nóng hừng hực. Trời đất tối sầm lại. Gió thổi gằn từng đợt. Đàn “ngựa lửa” chồm lên, nhảy
ùa vào những cụm le khô, vừa cào cấu vừa réo lên ù ù, ra chiều thỏa thuê, khoái trá lắm. Khi
gặp những bãi cỏ khô, ngọn lửa lại rạp xuống, thè lè những chiếc lưỡi dài đỏ đọc ra mà liếm lèo
lèo.
Đám cháy rừng không hiểu bắt đầu từ đâu và kéo dài tới tận đâu. Chỉ thấy trước mặt sừng sững
dựng lên một bức tường lửa và khói. Những chú nai, hoẵng ngủ ngày trong những vạt cây xanh
giữa rừng khộp gặp nạn la lên oang oác, rồi cắm đầu chạy, co cẳng phóng rào rào. Khi những
đám cháy rừng thế này đi qua, người ta thường gặp không ít những chú nai, hoẵng, chồn, cheo
không chạy thoát khỏi cơn hỏa tai, bị thiêu chín nứt nở, mỡ vẫn còn nhỏ xèo xèo xuống tàn tro.
Con đường mòn mà trung đoàn trưởng Thuần và các đồng chí của mình đang đi xế về mé đầu
gió nên phải đợi cho đám cháy đi qua. Họ tạm nghỉ bên một con suối cạn. Lòng suối rộng đến
hơn chục mét, ngổn ngang đá xanh, đá trắng. Về mùa mưa chắc cũng phải khó khăn lắm vượt
qua nổi con suối này; vậy mà bây giờ nó khô khốc không một giọt nước. Thấy có tiếng động lạo
rạo trên đá, đàn dế con từ trong khe ùa ra, nhảy tưng tưng nom đến vui mắt.
Tham mưu trưởng Sự mồ hôi nhễ nhại, mặt đỏ rân, vừa đặt đít xuống anh đã mở bi đông nước,
tu ừngực. Nhìn Sự uống nước, trung đoàn trưởng mỉm cười, hỏi:
- Hạ nhiệt chưa, Sự hè?
Sự lắc đầu ngao ngán:
- Phát ớn mùa khô ở cái xứ này rồi
- Là tớ muốn hỏi cậu đã vơi cái bị ức đi chưa?
Sự chậc lưỡi:
- Tôi thấy bực mình thì phát, phát xong thì thôi, có chiđâu? Nhưng mà kể cũng sầu thật, chưa
chiến dịch nào trung đoàn mình được phân công làm ăn cho ra tấm ra miếng. Đấy, rồi anh xem.
Phục kích chiến dịch! Nghe thì hay ho đấy, nhưng rồi lại ngồi trơ mắt ếch ra nhìn họ làm ăn cho
coi.
Sự vẫn chưa hết thắc mắc về nhiệm vụ phục kích chiến dịch mà sư đoàn giao cho trung đoàn 6.
Thực tình mà nói, trong thâm tâm, Thuần cũng hơi tự ái khi trung đoàn mình chỉ được nhận
nhiệm vụ thứ yếu trong đội hình tác chiến của sư đoàn ở giai đoạn đoạn đầu của chiến dịch.
Nếu trungđoàn ông cũng được giao nhiệm vụ đánh chiếm một chi khu quân sự như trung đoàn
4 thi vẫn hơn. Nhưng ông tỉnh táo hơn Sự để hiểu rằng, Đảngủy và Bộ tư lệnh sư đoàn sử dụng
lực lượng như thế là hợp lý, hợp với sở trường của các đơn vị. Công bằng mà nói, trung đoàn 4
giỏi đánh địch trong công sự vững chắc hơn trung đoàn ông. Giao cho nó cụp thật nhanh, gọn
cái Thuần Mẫn để gây khí thế và tạo thời cơ làm ăn chung cho cả sư đoàn là hợp lý. Đây còn là
một trận được coi là mở màn cho toàn chiến dịch, nếu đánh cù cưa, trầy trớt thì rất phiền, ảnh
hưởng cả thế trận chung của toàn mặt trận. Theo dự đoán của Bộ tư lệnh chiến dịch, sau khi ta
tiêu diệt chi khu Thuần Mẫn, đẩy mạnh hoạt độngở phía nam; nhất là khi ta tiến công mục tiêu
A (Buôn Ma Thuật), bộ tư lệnh quânđoàn 2 ngụy sẽ cuống cà kê và chúng có thể phải điều lực
lượngở phía bắc cao nguyên xuốngứng cứu. Cái khoảng “có thể” đó chính là thời cơ làm ăn của
trung đoàn ông. Vì vậy, cùng với vài đơn vị hỏa lực tăng cường, trung đoàn ông phải triển khai
một thế trận phục kích lớn trên đường 14, cắt đứt con đường này, thực hiện ý đồ của Bộ tư lệnh
chiến dịch. Đó chính là nhiệm vụ chia cắt chiến dịch mà không một người cán bộ chỉ huy nào
được coi thương.
Nhưng vốn dĩ Sự là người nôn nóng, hay tự ái vặt, chỉ nghe mấy tiếng “nhiệm vụ thứ yếu” là cậu
ấy không chịu nổi. Theo Sự, hễ chiến dịch mở màn là phải nhảy bổ vào những “điểm nóng
nhất” mà nện tơi bời thì mới hả hê. Vậy nên, trong buổi giao nhiệm vụ trên sa bàn. Sự đã “nói
dỗi” với tư lệnh trưởng Thanh Đồng:
- Vâng, trung đoàn 6 “cà là mèng” xin chạy đèn cù để các bậc đàn anh là ăn!
Vốn là người chặt chẽ nghiêm khắc, nghe Sự nói vậy, tư lệnh trưởng chỉnh luôn cho một bài:
-Đồng chí Sự! Đây không phải chuyện xôi thịt mà phân ngôi phân thứ. Đã là người chỉ huy thì
không được coi thường bất cứ nhiệm vụ gì.
Đã thế Sự còn dám đai thêm:
-Tôi đâu có dám coi thường nhiệm vụ. Nhưng… trung đoàn tôi thì kém hẹm gì mà không hất
phăng được cái thằng Thuần Mẫn!
Biết tính Sự, trung đoàn trưởng vội phanh lại:
- Thôi mà Sự! Nhiệm vụ là nhiệm vụ. Tớ hỏi cậu, nếu cậu phân công tác chiến cho các tiểu đoàn
mà thằng cha nào đó cũng mè nheo nhận nhiệm vụ chủ yếu cả thì cậu tính sao?
Đó là hôm giao nhiệ m vụ giai đoạn một của chiến dịch. Còn hôm nay Sự nổi nóng lại vì
chuyện khác. Thuần và Sự vừa làm việc với tham mưu trưởng sư đoàn xong, vừa ló mặt ra khỏi
phòng tác chiến thì gặp ngay trung đoàn trưởng trung đoàn 4 Đặng Ngọc San, một cán bộ trung
đoàn trẻ. Biết Sự đang cay cú, San vừa cười vừa nói móc một câu:
- Thế nào anh Sinh Sự? (tên Sự là Nguyễn Đình Sự, nhưng vì anh có tính hay “sinh sự” không
chiến dịch nào anh không hò hét, cãi vã ở ban tác chiến vì hợp đồng chật mấu hayở phòng
quân nhu, quân giới vì đạn, gạo, nên các trợ lý trên sư đoàn đặt luôn cho anh cái tên ấy)– Triển
khai nhiệm vụ đến đâu rồi? Cứ yên trí, thế nào anh em cũng để sổng cho vài tiểu đội mà đón
lõng.
Gan ruột Sự đang tức anh ách như một quả bóng bơm căng, bị chích một mũi vậy, giận quá anh
“xì” luôn một hơi:
-Này đừng có cậy thế chủ công mà khinh anh em nhé. Ra cái điều ta đây! Chưa biết mỉu nào
hơn mỉu nào đâu mà đã rộn.
San đứng chết lặng, tưng hửng:
-Kìa, đùa một tí cho vui thôi mà. Ông này buồn cười nhỉ, có ai dám khinh các anh đâu! Sự vẫn
to tiếng:
-Đây không thíc đùa kiểu ấy.
San nháy mắt, cười;
- Thế… đùa kiểu này vậy. Này, con Xuân ở viện 4 nó gửi lời thăm cậu đấy.
Sự ngay mặt, cười ngô nghê rồi dang thẳng cánh thụi cho San một quả:
- Ba láp.
- Ba láp cái gì? – San tiếp tục tiến công– Thế cái bọc võng của cậu chẳng tay nó khâu thì ai? Anh
Thuần này coi chừng cái thằng này nhé. Nó bợm lắm đấy!
Bị “điểm đúng huyệt”, Sự đành phải xuống nước. Anh chàng quay sang tán chuyện tào lao và
cười hơ hớ. Sốt ruột, trung đoàn trưởng Thuần phải giục, anh ta mới chịu dứt ra. Sau đó lại còn
vừa đi vừa huýt sáo nữa mới tứccười.
Bây giờ cũng vậy, hình như chàng ta lại nghĩ ngợi điều gì xa xôi lắm. Khuôn mặt vuông vức rám
nắng im lìm. Đôi mắt to đen mở ra, nhìn xa hút. Thỉnh thoảng, chừng nghĩ tới điều gì vui lắm,
anh ta tủm tỉm cười ruồi, hai cánh mũi to phập phồng, đôi lông mày đen rậm động đậy. Trung
đoàn trưởng Thuần thích thú quan sát Sự một lát rồi hỏi:
- Nè!... có thực cậu yêu cái Xuânở viện 4 không?
Sự trợn mắt:
-Anh mà cũng nghe tụi nó tán láo à?
Trung đoàn trưởng cười mủm mỉm:
-Được đấy, tớ ủng hộ. Nó với tớ là chỗ đồng hương. Cũng dân Phú Yên cả mà. Tớ nói vô một câu
là ổn hết.
Thành, công vụ của trung đoàn trưởng, nghe thấy vậy cũng chen vào:
- Phải đấy anh Sự ạ. Em tiết lộ bí mật nhé. Hồi thủ trưởng điều trị ở đó, cô Xuân mến thủ
trưởng lắm. Một câu “chú Thuần”, hai câu “chú Thuần”. Nghe đâu còn muốn nhận thủ trưởng
Thuần làm ba nuôi cơ đấy. Anh nhận làm con rể thủ trưởng luôn đi cho rồi!
Trung đoàn trưởng Thuần bật cười vang. Sự đỏ rân mặt, nhảy vội tới, hai tay cứng như sắt của
anh nắm chặt lấy hai vai Thành mà lắc liên hồi:
- Nhóc con! Tầm bậy tầm bạ. Chừa không? Chừa thì tao buông. Nếu không tao bóp cổ! May thay
cho Thành, vừa lúc đó có một con hoẵng từ trong đám cháy rừng lao vụt ra, vừa nhảy cà nhắc
cà nhót vừa la lên oang oác. Mấy cậu thông tin, trinh sáthè nhau đuổi. Sự vội buông vai Thành
vớ lấy hai hòn đá hét inh lên:
- Nó bị thương rồi. Đuổi… bắt sống!...
Nhưng dù bị thương, con hoẵng vẫn chạy nhanh hơn người. Loáng một cái nó đã mất hút.
Những người đuổi theo nó luồn qua cả những đám rừng vừa cháy qua, than tro bám vào quần
áo, mặt mũi, nom như một đội chữa cháy vừa đi làm nhiệm vụ về. Sự vừa thở dài vừa lắc đầu:
- Nó chạy cà nhắc mà nhắc mà nhanh quá!
Trung đoàn trưởng nói khích:
- Bọn mình cứ tưởng phải khiêng theo cả hoẵng thì mệt quá lắm!
Đám cháy nương theo chiều gió tạt qua hướng khác. Phía trước mặt, nơi Thuần và các đồng chí
của mình sắp sửa đi tới hiện ra một vùng đen nhẻm. Những cây con, dây leo, cỏ đều bị đốt trụi,
chỉ còn trơ ra những thân khộp đen xì, đứng im lìm như đã chết. Vỏ cây cũng bị cháy sém, đang
còn bốc khói nghi ngút. Cả dải đồi mới đó còn vàng rộm màu lá khô mà bây giờ đã đen kịt, tối
thẫm như một vùng mỏ than lộ thiên. Tựa hồ như có một bàn tay thần kỳ vừa nhấc bổng cả
những dải đồi ấy lên, nhúng vào một đại dương màu mực tàu rồi lại đặt nó về vị trí cũ vậy.
Thuần cho nghỉ thêm ít phút nữa để các chàng đuổi hoẵng thở một chút cho lại sức rồi tiếp tục
ra lệnh hành quân. Tối nay ông phải có mặt ở trung đoàn để báo cáo trước Đảngủy nhiệm vụ cụ
thể của Đảngủy và Bộ tư lệnh sư đoàn giao cho trung đoàn. Còn bao nhiêu việc phải triển khai
trước khi chiến dịch bắt đầu mở màn. Ông cảm thấy những ngày này, thời gian như nén lại,
không gian thì như căng giãn ra. Cả núi rừng Tây Nguyên cũng đang dồn nén, âmỉ, tích tụ,
chuẩn bị cho một sự bùng nổ dữ dội chưa từng xảy ra trên vùng cao nguyên đất đỏ này.
2
Dự buổi họp giao ban buổi sáng xong trung đoàn trưởng Thuần kéo chính ủy Tâm ra ngồi trên
chiếc ghế gỗ, do đồng chí công vụ làm dưới gốc cây Trếch già, cành lá sum sê.
Ngồi đây một chút anh!Tôi… có chuyện này…
Thuần nói với chínhủy như vậy rồi rút thuốc lá ra mời ông. Hai người đã châm thuốc hút được
đến nửa điếu rồi nhưng Thuần vẫn chưa nói gì. Chính ủy đã nhận ra những nét khác thường
trên gương mặt trung đoàn trưởng. Đôi mắt ông long lanh ướt, gương mặt ông thoắt như hồng
lên, thoắt lại như tái đi. Điếu thuốc lá trên môi ông lập bập. Sống gần bên Thuần lâu năm, chính
ủy hiểu rằng Thuần đang xúc động, đang có một điều gì muốn nói ra nhưng không phải dễ gì
mà nói ra ngay được. Biết vậy nên ông yên lặng chờ đợi, vờ như không hề nhận ra những nét
xúc động đó trên gương mặt người bạn chiến đấu của mình.
- Anh Tâmạ!... phì… có một điều này… phà… lạ lắm!...
Chính ủy ngước nhìn lên, gợi chuyện:
- Có chuyện gì vậy, anh Thuần?
-Phà… có một điều này… mà sao nhỉ! – trung đoàn trưởng đưa tay ra đập đập lên trán mìnhQuái nhỉ! Tối nói anh đừng cười, bỗng tự nhiên tôi nghĩ rằng… Anh còn nhớ cái thư anh Năm
Tự gởi cho tôi hồi tháng hai năm bảy ba không?
Chính ủy à một tiếng rồi mỉm cười:
- Nhớ, tôi nhớ chứ! Quên làm sao được.
Chính ủy làm sao quên được buổi chiều hômấy. Cái buổi chiều mà người bạn chiến đấu của
ông, đã ngoài bốn mươi tuổi, dày dạn phong trần đến vậy mà bỗng khóc nức nở như một đứa
trẻ. Anh mếu máo run rẩy đưa cho chính ủy một phong thư: “Đọc đi…anh, tha lỗi cho tôi”.
Chính ủy đọc bức thư và hiểu ra tất cả. Đó là những dòng tin tức đầu tiên về quê hương và gia
đình mà sau gần hai mươi năm trời xa cách, mong nhớ, lo âu, khắc khoải, nay Thuần mới nhận
được. Bức thư ngắn ngủi ấy của người bạn đồng hương đã mang đến cho anh nỗi đau thương
mất mát lẫn niềm vui, hạnh phúc mà gần hai chục năm nay anh cứ ngỡ rằng mình không hề có.
Bên cạnh những tin tức về bạn bè, đồng chí, người thân bị giặc bắt, giặc giết là những dòng tin
làm sáng rực trong lòng Thuần một niềm vui hạnh phúc. Vợ anh vẫn còn, vẫn chờ đợi anh, vẫn
hoạt động cách mạng. Và đặc biệt anh được biết thêm rằng mình đã có một đứa con. Đó là điều
kì diệu nhất má suốt gần hai chục năm xa cách, anh không bao giờ dám nghĩ đến. Lấy vợ được
bảy ngày thì anh thoát ly đi hoạt động. Một năm sau hiệp định Giơ-nevơ được ký kết. Trước khi
ra Quy Nhơn để xuống tàu đi tập kết, anh chỉ được ghé qua nhà có một ngày một đêm. Anh đâu
biết từ cái đêm chia ly đẫm nước mắt ấy, anh đã để lại quê nhà một phần máu thịt của mình.
Đứa con của anh đã ra đời trong những ngày đen tối nhất của miền nam. Ở tỉnh Phú Yên quê
anh, đó là những ngày bọn tay sai Ngô Đình Diệm điên cuồng mở chiến dịch Hải Âu, một chiến
dịch tố Cộng đẫm máu. Đứa con của anh đã ra đời trong nhữngngày máu và nước mắt ấy. Nó đã
sống bằng dòng sữa cay đắng của mẹ, sống trong sự đùm bọc yêu thương của bà con làng xóm.
Nó đã lớn lên, đã trưởng thành cùng phong trào cách mạng của quê hương. Và, cũng như tất cả
những người con t
 





